Trang thông tin điện tử Binh chủng Hóa học

collapse
...
Trang chủ / Chuyên đề / Những nội dung chính của công ước cấm vũ khí hoá học

Những nội dung chính của công ước cấm vũ khí hoá học

02/03/2016  Phạm Hữu Thái 4,497 lượt xem
Để làm tốt chức năng tham mưu, đề xuất giúp Thủ trưởng Bộ tư lệnh Hóa học xử lý các vấn đề liên quan đến các cam kết quốc tế mà Chính phủ đã ký trong thực thi Công ước cấm vũ khí hóa học (VKHH) tại Việt Nam, khi Nhà nước, Chính phủ và Bộ Quốc phòng yêu cầu; chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị Hoá học trực thuộc Binh chủng và lực lượng hoá học toàn quân thực thi các nhiệm vụ được giao có liên quan, chúng

Công ước Cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng VKHH và việc phá hủy chúng (gọi tắt là Công ước Cấm VKHH, hay Công ước CWC) được Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký ngày 13/01/1993, Chủ tịch nước phê chuẩn ngày 24/8/1998 và chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 30/10/1998.

Công ước cấm VKHH gồm lời mở đầu, 24 Điều và 3 Phụ lục (Phụ lục về Hoá chất, Phụ lục về Kiểm chứng và Phụ lục về Bảo mật). Công ước có giá trị vô hạn định, sẽ có hiệu lực sau khi Quốc gia thứ 65 phê chuẩn 180 ngày nhưng không sớm hơn 2 năm  kể từ ngày 13/01/1993. Công ước chính thức có hiệu lực từ ngày 29/4/1997. Siri hiện là Quốc gia mới nhất ký tham gia Công ước. Hiện nay vẫn còn một số Quốc gia chưa ký tham gia Công ước như: CHDCND Triều Tiên, Irắc, Li Bi, Ai cập.

Tổ chức Cấm vũ khí Hóa học (OPCW)

Các nội dung chính thể hiện trong Công ước Cấm VKHH gồm:

Lời nói đầu: bày tỏ quyết tâm hành động của các Quốc gia Thành viên nhằm tiến tới việc giải trừ quân bị toàn diện, triệt để, kể cả việc cấm và xoá bỏ tất cả các loại vũ khí huỷ diệt hàng loạt, nhắc tới những văn kiện đa phương có liên quan tới Công ước: Nghị định thư Geneva và Công ước vũ khí sinh học, nhằm ngăn chặn khả năng sử dụng chất diệt cỏ như là một phương tiện chiến tranh.

Điều I. Những nghĩa vụ chung: quy định những cam kết cơ bản của các Quốc gia Thành viên: không bao giờ, trong bất cứ hoàn cảnh nào, phát triển, sản xuất, hoặc bằng cách khác có được, tàng trữ, duy trì VKHH, hoặc chuyển giao chúng, trực tiếp hoặc gián tiếp cho bất cứ ai; không bao giờ sử dụng VKHH; không bao giờ tham gia chuẩn bị quân sự để sử dụng VKHH; và không bao giờ giúp, khuyến khích hoặc xúi giục, dưới bất cứ hình thức nào, bất cứ ai, tiến hành bất cứ hành động nào bị cấm theo Công ước này; đồng thời cam kết phá huỷ VKHH và các phương tiện sản xuất mà họ có hoặc đặt ở bất cứ đâu thuộc quyền tài phán hay kiểm soát của mình, cũng như những VKHH mà họ đã bỏ lại trên lãnh thổ của Quốc gia Thành viên khác. Mỗi Quốc gia Thành viên cam kết không sử dụng các chất chống bạo loạn như là một phương tiện chiến tranh.

Điều II. Các định nghĩa và tiêu chuẩn: nêu rõ thế nào là “vũ khí hoá học”, “hoá chất độc”, “hóa chất chống bạo loạn”… Đồng thời quy định rằng những quy định cấm nêu trong Điều I không chỉ áp dụng với các phương tiện chiến tranh hoá học mà còn đối với các phương tiện lưu hành và phương tiện được thiết kế để sử dụng VKHH.

Điều III. Khai báo: mỗi Quốc gia Thành viên, chậm nhất là 30 ngày sau khi Công ước có hiệu lực, phải gửi tuyên bố (khai báo) cho Tổ chức Công ước cụ thể về: vũ khí hoá học, vũ khí hoá học cũ còn sót lại, về các cơ sở sản xuất vũ khí hoá học, phải chỉ rõ địa điểm và số lượng, và đệ trình kế hoạch tổng thể về việc phá huỷ, tiêu trừ chúng. Ngoài ra, còn phải khai báo về các cơ sở khác và các chất chống bạo loạn.

Điều IV. Vũ khí hoá học và Điều V. Những cơ sở sản xuất vũ khí hoá học: cùng với Phụ lục Kiểm chứng, quy định cụ thể về phá huỷ vũ khí hoá học và các cơ sở sản xuất vũ khí hoá học, kể cả kiểm chứng việc phá huỷ. Việc phá huỷ các loại vũ khí hoá học và các cơ sở sản xuất vũ khí hoá học phải được hoàn thành trong vòng 10 năm và việc phá huỷ phải được bắt đầu 2 năm đối với vũ khí hoá học và 1 năm đối với các cơ sở sản xuất vũ khí hoá học sau khi Công ước có hiệu lực với một Quốc gia Thành viên. Trong hoàn cảnh nhất định, Quốc gia Thành viên có thể kéo dài thời hạn tiêu huỷ nhiều nhất thêm 5 năm hoặc có thể chuyển đổi sử dụng vì mục đích hoà bình theo tinh thần là chúng không thể tái chuyển đổi cho các mục đích bị Công ước cấm. Mỗi nước Thành viên phải chi phí cho việc thanh tra quốc tế giám sát quá trình tiêu hủy VKHH cũng như các cơ sở sản xuất VKHH, trừ trường hợp Hội đồng điều hành quyết định khác. Điều IV và V cũng quy định về thanh sát tại chỗ các địa điểm nghi ngờ tàng trữ và sản xuất vũ khí hoá học và việc cần phải giám sát những địa điểm sản xuất vũ khí hoá học.

Điều VI. Những hoạt động không bị Công ước ngăn cấm: cùng với Phụ lục Kiểm chứng quy định toàn diện, nhằm bảo đảm sự phát triển đúng hướng của ngành công nghiệp hóa chất thông qua nghĩa vụ khai báo của các Quốc gia Thành viên và hoạt động thanh sát tại chỗ của Tổ chức Cấm VKHH (OPCW). Hình thức thanh sát phụ thuộc vào các bảng phân loại hoá chất khác nhau (căn cứ vào những rủi ro của chúng đối với đối tượng và mục đích của Công ước), cũng như các cơ sở sản xuất hoá chất liên quan đến Công ước.

Điều VII. Những biện pháp thực hiện của quốc gia: yêu cầu các Quốc gia Thành viên ban hành các biện pháp bảo đảm thực thi Công ước, trong đó phải chỉ định hoặc thành lập một Cơ quan Quốc gia làm đầu mối liên lạc với Tổ chức Công ước.

Điều VIII. Tổ chức công ước: quy định việc thành lập OPCW có trụ sở tại La-Hay (Hà Lan). Tổ chức bộ máy của OPCW sẽ bao gồm một số cơ quan trực thuộc: Hội nghị các Quốc gia Thành viên sẽ là cơ quan chính ra quyết định và họp hàng năm. Hội đồng chấp hành gồm 41 Quốc gia Thành viên đại diện cho 5 nhóm khu vực và sẽ là cơ quan chấp hành của Tổ chức và chịu trách nhiệm giám sát các hoạt động. Ban thư ký kĩ thuật đứng đầu là một Tổng giám đốc sẽ thực hiện công việc cụ thể của Tổ chức này. Bộ phận chính của Ban thư ký là Ban thanh sát phụ trách việc kiểm chứng.

Điều IX. Tham vấn, hợp tác và tìm hiểu thực tế: cùng với Phụ lục Kiểm chứng quy định về các cuộc thanh sát đột xuất. Một Quốc gia Thành viên có thể yêu cầu phải tiến hành một cuộc thanh sát đột xuất bất cứ cơ sở, địa điểm nào thuộc lãnh thổ một nước khác nhằm làm sáng tỏ và xử lý những vấn đề liên quan đến khả năng không tuân thủ. Bên bị thanh sát phải cho phép Ban thư ký kĩ thuật tiến hành cuộc thanh sát và có nghĩa vụ cho nhóm thanh sát tiếp cận. Tuy nhiên, Công ước cũng quy định cho phép bên bị thanh sát được bảo vệ khỏi bị đội thanh sát xâm nhập những cơ sở, tiến hành những hoạt động mà họ cho là không liên quan gì đến yêu cầu thanh sát.

Điều X. Trợ giúp và bảo vệ chống vũ khí hoá học: các Quốc gia thành viên có quyền yêu cầu và nhận sự giúp đỡ và bảo vệ chống lại việc sử dụng và đe doạ sử dụng vũ khí hoá học, đồng thời phải có nghĩa vụ giúp đỡ thông qua Tổ chức bằng cách thực hiện một hoặc nhiều biện pháp như: đóng góp vào quỹ tự nguyện do Hội nghị các Quốc gia thành viên lập; ký các thoả thuận với Tổ chức cam kết giúp đỡ khi có việc sử dụng hoặc đe doạ sử dụng VKHH chống lại một Quốc gia thành viên; và tuyên bố hình thức giúp đỡ của họ trong trường hợp khẩn cấp.

Điều XI. Phát triển kinh tế và công nghệ: các quy định nhằm thúc đẩy mở rộng thương mại quốc tế, hợp tác kinh tế và phát triển công nghệ trong lĩnh vực hoá chất. Khuyến khích việc xoá bỏ dần những hạn chế hiện hành song song với việc thực hiện kiểm chứng công nghiệp hoá chất.

Điều XII. Các biện pháp xử lý, khắc phục đảm bảo sự tuân thủ, kể cả biện pháp trừng phạt: quy định những phương thức khắc phục tình hình trái với những quy định của Công ước. Một Quốc gia thành viên được coi là không tuân thủ hoàn toàn Công ước có thể bị yêu cầu có hành động khắc phục, nếu họ không làm có thể sẽ phải chịu những hình phạt, kể cả trừng phạt. Trường hợp nghiêm trọng có thể đưa ra Hội Đồng Bảo An Liên hợp quốc (LHQ) và có thể chịu các hình phạt cưỡng chế theo Hiến chương LHQ.

12 Điều còn lại của Công ước đề cập tới các nội dung: mối quan hệ giữa Công ước với các thoả thuận quốc tế khác; việc giải quyết tranh chấp; điều khoản bổ sung; thời hạn và việc rút khỏi Công ước; quy chế về các Phụ lục; việc ký kết, phê chuẩn; việc tham gia Công ước; hiệu lực của Công ước; bảo lưu; lưu chiểu và văn bản chính thức.

Phụ lục về hoá chất: bao gồm 3 bảng phân loại hoá chất và chỉ dẫn. Bảng phân loại xác định những hoá chất phải áp dụng những biện pháp kiểm chứng theo phần tương xứng trong Phụ lục về kiểm chứng; những biện pháp chặt chẽ nhất được áp dụng đối với hoá chất bảng 1, và những biện pháp kém chặt chẽ hơn được áp dụng đối với các hoá chất ở bảng 2 và 3.

Phụ lục về kiểm chứng: bao gồm 11 chương mục đề cập cụ thể trình tự, cách thức tiến hành kiểm chứng việc phá huỷ vũ khí hoá học và các cơ sở sản xuất vũ khí hoá học, việc thanh sát định kỳ công nghiệp hoá chất và thực hiện các cuộc thanh sát đột xuất. Ngoài ra Phụ lục quy định những biện pháp cụ thể tiến hành điều tra những trường hợp cáo giác có sử dụng vũ khí hoá học.

Phụ lục về bảo mật các thông tin: quy định những nguyên tắc chung xử lý những thông tin mật, việc tuyển chọn và hành vi của đội ngũ Ban thư ký kĩ thuật, những biện pháp bảo vệ những cơ sở bí mật, ngăn chặn việc rò rỉ số liệu mật trong các cuộc thanh sát tại chỗ, và quy định xử lý những vi phạm về bảo mật./.

(Theo Tổ chức cấm VKHH)


Chia sẻ:

Để lại bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *