Trang thông tin điện tử Binh chủng Hóa học

collapse
...
Trang chủ / Chuyên đề / Lời Bác dạy ngày này năm xưa ( Tổng hợp tháng 2 )

Lời Bác dạy ngày này năm xưa ( Tổng hợp tháng 2 )

14/05/2018  Chủ tịch Hồ Chí Minh 40,709 lượt xem
Lời dạy của Bác:

Ngày 1/2

“Nhà nào cũng có cửa, có buồng, có hòm, có khoá, để phòng ngừa kẻ gian giảo, để giữ gìn của cải do mình khó nhọc làm ra. Giữ nhà phải cẩn thận như vậy. Giữ nước càng phải cẩn thận hơn”

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài: Phải giữ bí mật của nhà nước, đăng trên Báo Nhân dân, ngày 1/2/1956. Đây là giai đoạn mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức khôi phục, hàn gắn vết thương chiến tranh ở miền Bắc, và đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc, thực dân vẫn đang tìm mọi cách để phá hoại cách mạng ViệtNam, trong đó có việc sử dụng tình báo để lấy cắp thông tin bí mật của Đảng, Nhà nước ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn khẳng định, những bí mật nhà nước về chính trị, kinh tế, quốc phòng… là tài sản quan trọng, có liên quan đến vận mệnh quốc gia, đến sự mất còn của dân tộc và bảo vệ bí mật Nhà nước là trách nhiệm của mọi công dân. Do đó, Hồ Chí Minh nhắc nhở mọi người phải cẩn thận trong tất cả các công việc, từ việc nhỏ đến việc lớn, đặc biệt là những việc liên quan đến bí mật của Nhà nước. Có như vậy, mới làm địch không thể đánh cắp được các văn kiện bí mật của ta và đó cũng là một cách để bảo vệ thành quả cách mạng, để giữ nước.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giúp cho mỗi người Việt Nam yêu nước nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và sự ngăn nắp trong công việc cũng như trong cuộc sống hàng ngày. Dù làm việc gì cũng phải chu đáo cẩn thận, những việc liên quan đến lợi ích của quốc gia, dân tộc thì càng phải cẩn thận, chu đáo, tỷ mỉ hơn.

Lời dạy trên của Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa quan trọng đối với quân đội nhân dân ViệtNam. Thực hiện lời dạy của Người, mỗi quân nhân, mỗi cơ quan đơn vị đã và đang làm tốt công tác phòng gian, giữ bí mật, bảo đảm an toàn tuyệt đối bí mật quân sự và bí mật quốc gia. Trong tình hình hiện nay, trước sự phát triển của công nghệ thông tin, nguy cơ bị lộ, lọt hoặc bị đánh cắp bí mật quân sự, bí mật quốc gia càng trở thành vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết. Vì vậy mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Đảng, Nhà nước, quân đội về bảo mật thông tin, ngăn chặn việc lộ, lọt thông tin, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng mọi lúc, mọi nơi, không để cho kẻ địch có cơ hội lấy cắp những thông tin của cá nhân, của đơn vị, của quân đội và Nhà nước. Mặt khác, cần xử lý nghiêm mọi hành vi vì lợi ích cá nhân mà cố tình cung cấp bí mật quân sự cho đối phương.

 Ngày 02/02

“Chính phủ sẽ luôn luôn rộng lượng với những ai biết cải tà quy chính, trọng thưởng những ai biết đái tội lập công”

Câu nói trên được Hồ Chí Minh viết trong Thư chúc tết đồng bào vùng tạm bị địch chiếm, ngày 2/2/1949). Đây là giai đoạn mà cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, cần phải động viên cao độ sức người, sức của cho cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Mặc dù vậy, trong vùng tạm bị địch chiếm, thực dân Pháp và các thế lực phản động đã tuyên truyền xuyên tạc, dùng đủ mọi cách ép nhân dân đi theo chúng. Do đó, có một bộ phận nhân dân do kém lập trường, thiếu niềm tin vào cách mạng đã đi theo Pháp, phục vụ cho Pháp.

Câu nói trên thể hiện sự thấu hiểu lỗi khổ của đồng bào vùng tạm bị địch chiếm trong ngày tết cổ truyền của dân tộc và tinh thần khoan dung, độ lượng của Chính quyền cách mạng. Góp phần thức tỉnh đồng bào trong vùng tạm chiếm lỡ lầm đường, lạc lối mà đi theo Pháp trở về với dân tộc, với cách mạng và kháng chiến. Câu nói thể cũng hiện tinh thần, chủ trương của chính phủ cách mạng, sẽ nghiêm khắc trừng trị những kẻ kẻ cố ý hại dân, cam tâm phản quốc, nhưng thông cảm, thấu hiểu và tha thứ cho một số nhân dân vùng tạm chiếm vì bị Pháp ép mà phải làm việc cho chúng. Đồng thời kêu gọi đồng bào, đoàn kết lấy công để chuộc tội, góp phần vào sự nghiệp chung của dân tộc. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thức tỉnh tinh thần, ý chí cách mạng, củng cố niềm tin của nhân dân Nam Bộ vào Chính phủ cách mạng, làm cho nhân dân đoàn kết chặt chẽ, giữ vững tinh thần, sẵn sàng giúp đỡ bộ đội và sẵn sàng để diệt địch, góp phần quan trọng vào củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Quán triệt quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ của quân đội, phải biết phân biệt giữa những kẻ phản động với những người lầm đường lạc lối để có cách xử lý cho phù hợp. Kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng và hành động lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng, Nhà nước, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, của dân tộc, nhưng phải tỏ rõ tinh thần độ lượng, khoan dung, tạo điều kiện cho những người vô tình bị kẻ xấu lợi dụng, dụ dỗ, mua chuộc được lập công chuộc tội. Mặt khác, cần quán triệt sâu sắc tinh thần nghiêm khắc nhưng khoan dung vào công tác dân vận và công tác tuyên truyền đặc biệt, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, của quân đội trong tình hình hiện nay.

 Ngày 03/02

“Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng. Mỗi cấp bộ của Đảng phải là một cơ quan lãnh đạo vững chắc ở địa phương, theo đúng đường lối, chính sách của Trung ương.”

Lời dạy này được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong bài: Đoàn kết tiến lên giành thắng lợi mới. Bài viết nhân dịp kỷ niệm lần thứ 33 Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-1963), trong bối cảnh dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân miền Bắc đang tích cực thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và cùng với đồng bào, chiến sĩ miền Nam tiến hành cuộc đấu tranh thần thánh để thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà. Yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng lúc này đặt ra tính cấp thiết của việc đoàn kết và phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam. Tuy nhiên, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân chỉ có thể được phát huy khi mỗi chi bộ đảng ở cơ sở phải thực sự là hạt nhân lãnh đạo và là tấm gương mẫu mực về sự đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động. Mặt khác, để phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và các chi bộ đảng phải làm tốt công tác dân vận.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ yêu cầu đối với vệc xây dựng các chi bộ ở các địa phương, các cấp, các ngành. Theo Người, các chi bộ phải thực sự trở thành hạt nhân lãnh đạo, phải biết đoàn kết, gắn bó và phát huy được vai trò của quần chúng. Đồng thời chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Trung ương.

Lời dạy trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành phương cho công tác xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các chi bộ và là mục tiêu phấn đấu, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Lời dạy của Người đã củng cố ý chí, quyết tâm, sự đoàn kết, thống nhất của các chi bộ ở cơ sở, góp phần quan trọng thúc đẩy việc thực hiện tốt kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ở miền Bắc và phát huy sức mạnh của đồng bào, chiến sĩ miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Giờ đây, lời dạy đó vẫn còn nguyên giá trị trong việc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta hiện nay.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một yêu cầu và định hướng quan trọng trong việc xây dựng các chi bộ trong Đảng bộ quân đội hiện nay. Theo đó, để phát huy cao độ sức mạnh của nhân tố con người trong quân đội, đòi hỏi mỗi chi bộ phải thực sự là tấm gương về sự đoàn kết, nhất trí, về lòng trung thành và luôn làm tốt công tác vận động quần chúng.

 Ngày 04/02

“Đoàn kết đã đưa Đảng ta và nhân dân ta từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cho nên chúng ta quý trọng và ra sức bảo vệ sự đoàn kết nhất trí - trong Đảng và trong nhân dân ta cũng như giữa các đảng và giữa các nước anh em - như giữ gìn con ngươi của mình”

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết "Mừng Đảng ta 33 tuổi, vào ngày 4 tháng 2 năm 1963; nhân kỷ niệm 33 năm thành lập Đảng. Trong bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá chặng đường phát triển đã đi qua và sự ủng hộ của các đảng anh em, đồng thời khẳng định những công lao, đóng góp của Đảng đối với đất nước suốt hơn 33 năm.

Lời dạy trên thể hiện tầm quan trọng của đoàn kết, đó là nhân tố đã làm nên thắng lợi của Đảng và nhân dân ta trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Đặc biệt, trong thời kỳ cách mạng nước ta thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miềnNamthống nhất Tổ quốc. Sự nghiệp cách mạng đòi hỏi phải phát huy cao độ sức mạnh toàn dân tộc và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế. Do vậy theo Người, chúng ta cần phải quý trọng và giữ gìn sự đoàn kết nhất trí từ trong Đảng, trong nhân dân, giữa đảng, nhà nước và nhân dân ta với đảng, nhà nước và nhân dân các nước anh em như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Lời dạy của Người không chỉ khẳng định vai trò của đoàn kết đối với thắng lợi của cách mạng, mà còn nêu lên sự cần thiết và tầm quan trọng của việc giữ gìn đoàn kết. Đồng thời, đây cũng là phương châm chỉ đạo cho đường lối đối nội và đối ngoại của Đảng ta, định hướng cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của cách mạng ViệtNamqua các thời kỳ.

Với Quân đội nhân dân ViệtNam, thực hiện lợi dạy trên của Người trước hết phải tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ, đặc biệt là trong tổ chức đảng, sau đó là đoàn kết giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cán bộ với chiến sĩ và đoàn kết quân dân. Đồng thời, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại của Đảng, phát huy vai trò của mình trong việc xây dựng tình đoàn kết quốc tế, thể hiện được truyền thống tốt đẹp của quân đội ta. Để giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong quân đội, đòi hỏi mỗi quân nhân phải thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của quân đội lên trên lợi ích cá nhân, luôn phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, gương mẫu trong lời nói và hành động, chấp hành nghiêm kỷ luật dân vận, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ quốc tế khi được phân công.

 Ngày 5/2

“Nông dân lao động là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất chắc chắn của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân”.

Lời dạy trên được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong Thư gửi Hội nghị nông vận và dân vận, ngày 5/2/1953. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta bước sang giai đoạn phản công, đòi hỏi phải huy động cao độ sức mạnh của toàn dân tộc, trong đó nông dân là một lực lượng đông đảo, cần phải phát huy cao độ mọi tiềm năng của họ và làm cho họ hăng hái tham gia vào sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn khẳng định vai trò của nông dân là một lực lượng to lớn của dân tộc, là đồng minh chắc chắn nhất của giai cấp công nhân. Do đó sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc muốn thắng lợi thì phải dựa chắc vào nông dân, chăm lo đến lợi ích, nguyện vọng, đời sống của nông dân, khơi dậy và phát huy cao độ tinh thần cách mạng, chủ nghĩa yêu nước và sức người, sức của của nông dân.

Lời dạy trên không chỉ là nền tảng tư tưởng để Đảng ta có các chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn đối với nông dân, củng cố niềm tin của nông dân vào sự lãnh đạo của Đảng, mà còn nhấn mạnh về đối tượng, yêu cầu, nhiệm vụ và cách thức tiến hành vận động nông dân mà các chủ thể công tác vận động quần chúng cần chú ý. Mặt khác, lời dạy của Người đã động viên, khích lệ nông dân đẩy mạnh tăng gia, sản xuất tích cực đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc.

Thực hiện lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thực hiện tốt chức năng công tác, làm tốt công tác dân vận, được nhân dân tin tưởng, giúp đỡ về mọi mặt. Trong giai đoạn hiện nay, để phát huy vai trò của nhân dân nói chung, nông dân nói riêng cho sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đòi hỏi mỗi quân nhân phải làm tốt vai trò của mình trong việc đoàn kết, giúp đỡ nhân dân, nhất là nông dân, thực hiện có hiệu quả chương trình “Quân đội chung tay xây dựng nông thôn mới”. Cùng với việc sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ nhân dân, mà còn phải biết tuyên truyền vận động, củng cố tình đoàn kết quân dân, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Mặt khác, phần lớn cán bộ, chiến sĩ trong quân đội xuất thân từ nông dân, do đó cần thực hiện tốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với nông dân, góp phần tạo tâm lý tích cực, sự hăng hái của mỗi quân nhân.

 

Ngày 6/2

“Cách mạng rất cần trí thức và chính ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức. Nhưng trọng trí thức như thế nào? Không phải tất cả đều là trọng. Trí thức đáng trọng là trí thức hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”.

Đây là lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày trong buổi Khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, Dân, Chính ở cơ quan Trung ương, ngày 6-2-1953; là giai đoạn nước ta đang đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp. Mặt khác, Hồ Chí Minh đã dự cảm về một giai đoạn mới của cách mạng nước ta sau khi cuộc kháng chiến thắng lợi - giai đoạn kiến thiết và xây dựng. Do vậy, rất cần phải củng cố sự đoàn kết, thống nhất và phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc trong đó có đội ngũ trí thức. Tuy nhiên, lại có một bộ phận cán bộ, đảng viên còn chưa nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, chưa chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng. Thậm chí, một bộ phận cán bộ, đảng viên có thành kiến, chưa nhìn nhận, đánh giá đúng về trí thức, làm cho nhiều trí thức trong các cơ quan nhà nước cho rằng Đảng không coi trọng trí thức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò to lớn của trí thức trong phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe nhân dân và mối quan hệ giữ trí thức với cách mạng. Đồng thời cũng đưa ra tiêu chuẩn về người trí thức chân chính. Lời dạy của Người không chỉ giúp chúng ta có nhận thức và thái độ đúng về trí thức, mà còn là một cơ sở để Đảng ta hoạch định đường lối, chủ trương xây dựng đội ngũ trí thức cách mạng. Đồng thời, đây cũng là phương hướng, mục tiêu phấn đấu của mỗi trí thức và là cơ sở để đấu tranh với những nhận thức, quan điểm, tư tưởng sai trái về trí thức.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội cần khẳng định vai trò quan trọng của trí thức trong sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trên cơ sở đó, quán triệt, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, của Quân ủy Trung ương về xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức trong quân đội. Mặt khác, không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo tại các Học viện, nhà trường trong toàn quân và có chính sách đúng, cách làm hợp lý để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong quân đội. Cùng với việc đào tạo đội ngũ trí thức về chuyên môn, nghiệp vụ, cần thường xuyên bồi dưỡng đội ngũ trí thức về lập trường tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng, làm cho đội ngũ trí thức tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng chính trị của Đảng. Kịp thời phát hiện và đấu tranh với những trí thức suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

 Ngày 7/2

“Đối với tất cả các nước trên thế giới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết tha mong muốn duy trì tình hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ để xây dựng hòa bình thế giới lâu dài”.

Lời nói trên được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày trong Hội nghị những người Ấn nghiên cứu vấn đề quốc tế, ngày 7/2/1958. Đây là giai đoạn Người có nhiều hoạt động đối ngoại, viếng thăm các nước. Qua đó, Người thể hiện rõ quan điểm nhất quán của ViệtNamtrong đối ngoại, tố cáo những âm mưu chia cắt, cô lập đất nước ta lâu dài và tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cách mạng nước ta.

Câu nói trên đã diễn đạt đầy đủ nguyện vọng, quan điểm và đường lối đối ngoại của Việt Nam lúc bấy giờ là duy trì tình hữu nghị, sự hợp tác chân thành với tất cả các nước trên thế giới dù có chế độ chính trị khác nhau, trên nguyên tắc bình đẳng và tương trợ lẫn nhau nhằm xây dựng hòa bình trên thế giới. Quan điểm của Người là nền tảng tư tưởng cho đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta và là cơ sở để các nước có chế độ chính trị khác nhau trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ViệtNam. Quán triệt và thực hiện quan điểm của Người, hoạt động đối ngoại của nước ta không ngừng mở rộng và phát triển, đã tranh thủ được sự ủng hộ giúp đỡ to lớn của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa cũng như của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ cho cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Đặc biệt, quan điểm đó của Người đã mở đường cho chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các hoạt động đối ngoại, Việt nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay.

Thực hiện lời dạy trên của Người, Quân đội nhân dân Việt Nam đã và đang quán triệt sâu sắc đường lối phát triển đất nước, đường lối quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng, tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc phù hợp với khả năng và bản chất nhân văn, nhân đạo của một quân đội cách mạng. Quán triệt, thực hiện quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay, quân đội cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam, trên cơ sở đó nhận rõ đối tượng tác chiến; không ngừng chăm lo xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó có một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại để góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần gìn giữ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

 Ngày 8/2

“Tự mãn thì không tiến bộ được nữa; không tiến bộ tức là thoái bộ, mà thoái bộ thì không làm tròn nhiệm vụ”.

Đây là lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại Hội nghị tổng kết cải cách ruộng đất đợt II, ngày 8/2/1955; trong giai đoạn miền Bắc nước ta mới được giải phóng và bước vào cải cách ruộng đất. Trong cải cách ruộng đất có nhiều cán bộ, đảng viên, hăng hái làm đúng đường lối của Đảng, nhưng ngược lại, cũng có nhiều người mắc khuyết điểm cho mình là thạo rồi, việc gì cũng biết, tự kiêu tự mãn, chủ quan, thiếu cảnh giác, bị giai cấp địa chủ lừa gạt.

Hồ Chí Minh muốn thông qua một sự việc cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ cải cách ruộng đất để chỉ ra bệnh tự kiêu, tự mãn và tác hại của nó đối với mỗi cán bộ, đảng viên và đối với quá trình thực hiện nhiệm vụ của cách mạng. Đây là lời cảnh tỉnh đối với tất cả mọi người, nhất là những người cách mạng, không bao giờ được tự mãn, tự kiêu, mà cần phải khiêm tốn, cầu thị, không ngừng hăng hái, phấn đấu, học hỏi để nâng cao hiểu biết, hoàn thiện kỹ năng, phương pháp, tác phong công tác, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc.

Lời dạy của Người không chỉ là yêu cầu về đạo đức cách mạng, mà còn là phương châm chỉ đạo việc học tập đối với mỗi cán bộ, đảng viên với tinh thần, học nữa, học mãi, học mọi lúc, mọi nơi, học trong nhà trường, học trong công tác, lao động, sản xuất, chiến đấu, nhất là học nhân dân. Lời dạy của Người đã góp phần khắc phục tư tưởng tự mãn, tự kiêu ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào tự học, tự rèn nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng.

Quán triệt, thực hiện lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều cán bộ quân đội với tinh thần tự học, tự rèn đã trở thành những tướng lĩnh tiêu biểu, xuất sắc trong quân đội, những cán bộ cách mạng ưu tú của Đảng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh… Ngày nay, trước yêu cầu xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi mỗi quân nhân, nhất là cán bộ, sĩ quan phải tích cực, chủ động học tập, rèn luyện mọi lúc, mọi nơi để không ngừng nâng cao nhận thức chính trị, củng cố vững chắc lập trường tư tưởng, có trình độ kỹ, chiến thuật, trình độ chỉ huy, quản lý tốt. Kiên quyết khắc phục những tư tưởng không đúng, nhất là bệnh chủ quan, tự mãn, tự kiêu để góp phần xây dựng đơn vị và quân đội ngày càng vững mạnh, thực sự chính quy, tinh nhuệ, luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.

 Ngày 9/2

“Thực hiện khẩu hiệu “Sạch làng tốt ruộng”, “Tấc đất tấc vàng” - nhà cửa, vườn tược, đường sá đều sạch sẽ, đúng vệ sinh”.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong Bài viết Một chi bộ tốt ở nông thôn, đăng trên Báo Nhân dân, số 2518, ngày 9-2-1961. Đây là giai đoạn miền Bắc đang tập trung thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, trong đó một yêu cầu đặt ra là phải đẩy mạnh xây dựng chi bộ ở nông thôn, làm nòng cốt lãnh đạo các địa phương phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm lãnh đạo của Chi bộ Kim An (Hà Đông), Hồ Chí Minh muốn phổ biến để các nơi khác học tập.

Lời dạy trên đề cập đến khẩu hiệu và phương châm trong phát triển sản xuất, đồng thời kết hợp với việc xây dựng, cảnh quan, môi trường, xây dựng đời sống mới ở các địa phương. Lời dạy của Người có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển nông nhiệp ở các vùng nông thôn, đặc biệt là việc kết hợp giữa phát triển sản xuất với việc bảo vệ môi trường. Đây cũng là một yêu cầu trong phát triển bền vững ở nông thôn và là một trong những tiêu chí của nông thôn mới hiện nay. Quán triệt và thực hiện lời dạy của Người, Đảng ta đã phát động phong trào khai hoang, phục hóa, tổ chức các công, nông trường để quai đê, lấn biển, mở rộng đất sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Trong giai đoạn hiện nay, sự gia tăng dân số và sự đa dạng hóa các mô hình sản xuất đang tạo nên những vấn đề nóng ở nông thôn như vấn đề sử dụng đất, vấn đề ô nhiễm môi trường… Do vậy, các chi bộ ở nông thôn cần lãnh đạo thực hiện tốt các quy hoạch của trên để đất đai được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và bền vững. Đồng thời, cần quan tâm sâu sắc đến việc tuyên truyền, vận động nhân dân bảo vệ môi trường để không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi quân nhân cần nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh chung, thực hiện tốt phong trào xây dựng cảnh quan, môi trường văn hóa trong đơn vị, bảo đảm đơn vị luôn có môi trường chính quy, xanh, sạch, đẹp và phong phú. Mặt khác, mỗi quân nhân phải có ý thức giữ vệ sinh nơi thao trường huấn luyện, các đơn vị quân đội cần tích cực giúp đỡ nhân dân nơi đóng quân thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường và phát triển sản xuất. Bên cạnh đó, mỗi quân nhân cần đề cao ý thức tự phê bình và phê bình trong việc sắp đặt nội vụ, vệ sinh, nơi ăn, ở, học tập, công tác, góp phần xây dựng các đơn vị sở trong quân đội chính quy, mẫu mực về cảnh quan, môi trường

 Ngày 10/2

“Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên. Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân… Làm đày tớ nhân dân chứ không phải làm “quan” nhân dân”

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Bài nói với cán bộ tỉnh Hà Tây ngày 10-2-1967 và đăng trên báo Nhân dân, số 4713, ngày 5-3-1967. Đây là lần Bác đến thăm và nói chuyện với Hợp tác xã Tảo Dương, xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội, nhằm rút kinh nghiệm làm điểm trong xây dựng hợp tác xã, trong đó có vấn đề về xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ.

Lời dạy của Người đề cập đến mối quan hệ giữa số lượng với chất lượng trong xây dựng đảng. Trong đó, Người nhấn mạnh đến cái chất, tức là phẩm chất cách mạng, năng lực công tác, bản lĩnh chính trị và tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên. Do đó, phát triển Đảng phải đặt trọng tâm vào chất lượng, coi trọng chất lượng, lấy chất lượng làm chính, không chạy theo số lượng thuần túy. Mặt khác, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên trong quan hệ với nhân dân.

Lời dạy của Người có ý nghĩa rất quan trọng, là kim chỉ nam trong công tác xây dựng Đảng. Đồng thời là cơ sở để người đảng viên xác định tốt trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với Đảng, với nhân dân. Từ đó, góp phần khắc phục những khuyết điểm đang tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thực hiện lời dạy của Người, đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng tự giác tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt, luôn tiền phong, gương mẫu, thực sự tiêu biểu về đạo đức cách mạng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng.

Trong suốt thời qua, thực hiện lời dạy của Người, Đảng bộ quân đội luôn quan tâm sâu sắc đến công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, bảo đảm đội ngũ cán bộ, đảng viên có chất lượng tốt trên cơ sở số lượng phù hợp đáp ứng yêu cầu xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội, góp phần giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Hiện nay, trong xây dựng Quân đội, nhất là trong phát triển đội ngũ đảng viên, cấp ủy các cấp cần chú trọng cả chất lượng và số lượng, tuy nhiên phải đề cao chất lượng, không nên chạy theo số lượng, theo chỉ tiêu đơn thuần mà xem nhẹ chất lượng đảng viên. Đồng htời, qua đây mỗi đảng viên trong quân đội nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc làm gương cho quần chúng, cho cấp dưới về phẩm chất, năng lực, phương pháp và phong cách công tác, góp phần tích cực vào kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị.

 Ngày 7/2

“Đối với tất cả các nước trên thế giới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết tha mong muốn duy trì tình hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ để xây dựng hòa bình thế giới lâu dài”.


Lời nói trên được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày trong Hội nghị những người Ấn nghiên cứu vấn đề quốc tế, ngày 7/2/1958. Đây là giai đoạn Người có nhiều hoạt động đối ngoại, viếng thăm các nước. Qua đó, Người thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Việt Nam trong đối ngoại, tố cáo những âm mưu chia cắt, cô lập đất nước ta lâu dài và tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cách mạng nước ta.

Câu nói trên đã diễn đạt đầy đủ nguyện vọng, quan điểm và đường lối đối ngoại của Việt Nam lúc bấy giờ là duy trì tình hữu nghị, sự hợp tác chân thành với tất cả các nước trên thế giới dù có chế độ chính trị khác nhau, trên nguyên tắc bình đẳng và tương trợ lẫn nhau nhằm xây dựng hòa bình trên thế giới. Quan điểm của Người là nền tảng tư tưởng cho đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta và là cơ sở để các nước có chế độ chính trị khác nhau trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Quán triệt và thực hiện quan điểm của Người, hoạt động đối ngoại của nước ta không ngừng mở rộng và phát triển, đã tranh thủ được sự ủng hộ giúp đỡ to lớn của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa cũng như của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Đặc biệt, quan điểm đó của Người đã mở đường cho chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các hoạt động đối ngoại, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Thực hiện lời dạy trên của Người, Quân đội nhân dân Việt Nam đã và đang quán triệt sâu sắc đường lối phát triển đất nước, đường lối quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng; mở rộng, phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng, đối ngoại quân sự; tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc phù hợp với khả năng và bản chất nhân văn, nhân đạo của một quân đội cách mạng. Quán triệt, thực hiện quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay, Quân đội cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam, trên cơ sở đó nhận rõ đối tượng tác chiến; không ngừng chăm lo xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó có một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại để góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần gìn giữ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

 Ngày 8/2

"Tự mãn thì không tiến bộ được nữa; không tiến bộ tức là thoái bộ, mà thoái bộ thì không làm tròn nhiệm vụ".

Đây là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại Hội nghị tổng kết cải cách ruộng đất đợt II, ngày 8/2/1955; trong giai đoạn miền Bắc nước ta mới được giải phóng và bước vào cải cách ruộng đất. Trong cải cách ruộng đất có nhiều cán bộ, đảng viên hăng hái làm đúng đường lối của Đảng, nhưng ngược lại cũng có nhiều người mắc khuyết điểm cho mình là thạo rồi, việc gì cũng biết, tự kiêu tự mãn, chủ quan, thiếu cảnh giác, bị giai cấp địa chủ lừa gạt.

Hồ Chí Minh muốn thông qua một sự việc cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ cải cách ruộng đất để chỉ ra bệnh tự kiêu, tự mãn và tác hại của nó đối với mỗi cán bộ, đảng viên và đối với quá trình thực hiện nhiệm vụ của cách mạng. Đây là lời cảnh tỉnh đối với tất cả mọi người, nhất là những người cách mạng, không bao giờ được tự mãn, tự kiêu mà cần phải khiêm tốn, cầu thị, không ngừng hăng hái, phấn đấu, học hỏi để nâng cao hiểu biết, hoàn thiện kỹ năng, phương pháp tác phong công tác, không ngừng nâng cao hiệu quả làm việc.

Lời dạy của Người không chỉ là yêu cầu về đạo đức cách mạng, mà còn là phương châm chỉ đạo việc học tập đối với mỗi cán bộ, đảng viên với tinh thần học nữa, học mãi, học mọi lúc, mọi nơi, học trong nhà trường, học trong công tác, lao động, sản xuất, chiến đấu, nhất là học nhân dân. Lời dạy của Người đã góp phần khắc phục tư tưởng tự mãn, tự kiêu ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào tự học, tự rèn nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.

Quán triệt, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều cán bộ quân đội với tinh thần tự học, tự rèn đã trở thành những tướng lĩnh tiêu biểu, xuất sắc trong quân đội, những cán bộ ưu tú của Đảng, như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh… Ngày nay, trước yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi mỗi quân nhân, nhất là cán bộ, sĩ quan phải tích cực, chủ động học tập, rèn luyện mọi lúc, mọi nơi để không ngừng nâng cao nhận thức chính trị, củng cố vững chắc lập trường tư tưởng, có trình độ kỹ, chiến thuật, trình độ chỉ huy, quản lý tốt. Kiên quyết khắc phục những tư tưởng không đúng, nhất là bệnh chủ quan, tự mãn, tự kiêu để góp phần xây dựng đơn vị và quân đội ngày càng vững mạnh, thực sự chính quy, tinh nhuệ, luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.

 Ngày 9/2

 “Thực hiện khẩu hiệu “Sạch làng tốt ruộng”, “Tấc đất tấc vàng” - nhà cửa, vườn tược, đường sá đều sạch sẽ, đúng vệ sinh”.

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong Bài viết Một chi bộ tốt ở nông thôn, đăng trên Báo Nhân dân, số 2518, ngày 9-2-1961. Đây là giai đoạn miền Bắc đang tập trung thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, trong đó một yêu cầu đặt ra là phải đẩy mạnh xây dựng chi bộ ở nông thôn, làm nòng cốt lãnh đạo các địa phương phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm lãnh đạo của Chi bộ Kim An (Hà Đông), Hồ Chí Minh muốn phổ biến để các nơi khác học tập.

Lời dạy trên đề cập đến khẩu hiệu và phương châm trong phát triển sản xuất, đồng thời kết hợp với việc xây dựng, cảnh quan môi trường, xây dựng đời sống mới ở các địa phương. Lời dạy của Người có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển nông nghiệp ở các vùng nông thôn, đặc biệt là việc kết hợp giữa phát triển sản xuất với việc bảo vệ môi trường. Đây cũng là một yêu cầu trong phát triển bền vững ở nông thôn và là một trong những tiêu chí của nông thôn mới hiện nay. Quán triệt và thực hiện lời dạy của Người, Đảng ta đã phát động phong trào khai hoang, phục hóa, tổ chức các công, nông trường để quai đê, lấn biển, mở rộng đất sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Trong giai đoạn hiện nay, sự gia tăng dân số và sự đa dạng hóa các mô hình sản xuất đang tạo nên những vấn đề nóng ở nông thôn như vấn đề sử dụng đất, vấn đề ô nhiễm môi trường... Do vậy, các chi bộ ở nông thôn cần lãnh đạo thực hiện tốt các quy hoạch của trên để đất đai được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và bền vững. Đồng thời, cần quan tâm sâu sắc đến việc tuyên truyền, vận động nhân dân bảo vệ môi trường để không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi quân nhân cần nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh chung, thực hiện tốt phong trào xây dựng cảnh quan, môi trường văn hóa trong đơn vị, bảo đảm đơn vị luôn có môi trường chính quy, xanh, sạch, đẹp và phong phú. Mặt khác, mỗi quân nhân phải có ý thức giữ vệ sinh nơi thao trường huấn luyện, các đơn vị Quân đội cần tích cực giúp đỡ nhân dân nơi đóng quân thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường và phát triển sản xuất. Bên cạnh đó, mỗi quân nhân cần đề cao ý thức tự phê bình và phê bình trong việc sắp đặt nội vụ, vệ sinh, nơi ăn, ở, học tập, công tác, góp phần xây dựng các đơn vị sở trong Quân đội chính quy, mẫu mực về cảnh quan, môi trường.

 Ngày 10/2

“Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên. Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân... Làm đày tớ nhân dân chứ không phải làm “quan” nhân dân”.

Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Bài nói với cán bộ tỉnh Hà Tây ngày 10-2-1967 và đăng trên báo Nhân dân, số 4713, ngày 5-3-1967. Đây là lần Bác đến thăm và nói chuyện với Hợp tác xã Tảo Dương, xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội, nhằm rút kinh nghiệm làm điểm trong xây dựng hơp tác xã, trong đó có vấn đề về xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ.

Lời dạy của Người đề cập đến mối quan hệ giữa số lượng với chất lượng trong xây dựng đảng. Trong đó, Người nhấn mạnh đến cái chất, tức là phẩm chất cách mạng, năng lực công tác, bản lĩnh chính trị và tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên. Do đó, phát triển Đảng phải đặt trọng tâm vào chất lượng, coi trọng chất lượng, lấy chất lượng làm chính, không chạy theo số lượng thuần túy. Mặt khác, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên trong quan hệ với nhân dân.

Lời dạy của Người có ý nghĩa rất quan trọng, là kim chỉ nam trong công tác xây dựng Đảng. Đồng thời là cơ sở để người đảng viên xác định tốt trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với Đảng, với nhân dân. Từ đó, góp phần khắc phục những khuyết điểm đang tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thực hiện lời dạy của Người, đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng tự giác tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt, luôn tiền phong, gương mẫu, thực sự tiêu biểu về đạo đức cách mạng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng.

Trong suốt thời qua, thực hiện lời dạy của Người, Đảng bộ Quân đội luôn quan tâm sâu sắc đến công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, bảo đảm đội ngũ cán bộ, đảng viên có chất lượng tốt trên cơ sở số lượng phù hợp đáp ứng yêu cầu xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội, góp phần giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Hiện nay, trong xây dựng Quân đội, nhất là trong phát triển đội ngũ đảng viên, cấp ủy các cấp cần chú trọng cả chất lượng và số lượng, tuy nhiên phải đề cao chất lượng, không nên chạy theo số lượng, theo chỉ tiêu đơn thuần mà xem nhẹ chất lượng đảng viên. Đồng thời, qua đây mỗi đảng viên trong Quân đội nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong công tác vận động nhân dân, hiểu dân, trọng dân, gần dân, gắn bó mật thiết với quần chúng; quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội; kiên quyết đấu tranh chống bệnh quan liêu, thờ ơ vô cảm trước khó khăn của bộ đội và nhân dân; làm gương cho quần chúng, cho cấp dưới về phẩm chất, năng lực, phương pháp và phong cách công tác, góp phần tích cực vào kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị.

Ngày 11/2

“Phải làm cho lực lượng của dân quân du kích thành những tấm lưới sắt rộng rãi và chắc chắn, chăng khắp mọi nơi, địch mò đến đâu là mắc lưới đến đó”.

Là lời của Hồ Chí Minh trình bày trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, ngày 11/2/1951, khi bàn về việc phát triển lực lượng vũ trang 3 thứ quân “để đánh thắng nữa, đánh thắng mãi, đế tiến tới tổng phản công” giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp xâm lược.
Lời dạy của Hồ Chí Minh thể hiện chủ trương, yêu cầu xây dựng và phát huy vai trò to lớn của lực lượng dân quân, du kích trong thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, nổi bật là tư tưởng về xây dựng, phát triển lực lượng dân quân du kích cả về số lượng và chất lượng chính trị, làm cho hoạt động tác chiến của dân quân, du kích tạo thành một thiên la địa võng đối với quân thù. Lời dạy trên không chỉ là cơ sở tư tưởng để Đảng ta lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân nói chung, lực lượng dân quân du kích nói riêng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, mà còn là sự khích lệ, động viên để lực lượng dân quân du kích phát huy cao độ thế mạnh, sở trường của mình góp phần vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, mặc dù chiến tranh hiện đại có nhiều loại vũ khí bảo đảm cho việc tác chiến từ xa, nhưng với đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng ta lấy tự vệ chính nghĩa với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân thì vai trò của lực lượng dân quân tự vệ không hề thay đổi. Do đó, Nhà nước ta đã ban hành luật về dân quân tự vệ làm cơ sở để cấp ủy, chính quyền các cấp lãnh đạo, chi đạo việc xây dựng, phát triển lực lượng, bảo đảm tính rộng khắp và không ngừng nâng cao sức chiến đấu của lực lượng dân quân tự vệ.

Quân đội là bộ phận nòng cốt của lực lượng vũ trang ba thứ quân, việc phối hợp chặt chẽ với hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ trên từng địa bàn cụ thể vừa là nhiệm vụ vừa là nghệ thuật quân sự trong tác chiến của chiến tranh nhân dân. Trong lịch sử, Quân đội đã luôn làm tốt nhiệm vụ giúp huấn luyện kỹ, chiến thuật, bồi dưỡng lập trường, tư tưởng chính trị và phối hợp chặt chẽ với lực lượng dân quân, du kích trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, Quân đội cần tiếp tục làm tốt việc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương về tổ chức biên chế, xây dựng lực lượng và huấn luyện dân quân, tự vệ. Không ngừng bổ sung, hoàn thiện phương án phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ, góp phần nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân.

 Ngày 12/2

“Để bảo đảm phong trào thi đua thắng lợi vẻ vang, cần có hai điều: một là cán bộ và công nhân phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, ý thức trách nhiệm và tinh thần làm chủ tập thể; hai là kế hoạch 10 phần thì biện pháp phải 20 phần và quyết tâm 30 phần”.

 Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói tại Đại hội thi đua “Năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều” toàn miền Bắc, ngày 12/02/1965. Đây là giai đoạn ở miền Bắc đang có rất nhiều phong trào thi đua yêu nước nhằm thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, mà phong trào thi đua năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều” là một trong số đó. Hồ Chí Minh đã dự và phát biểu nhằm định hướng cho sự phát triến của phong trào.

Trong lời dạy trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những điều kiện đảm bảo cho phong trào thi đua thắng lợi phải bao gồm hai yếu tố, đó là: đối tượng tham gia thi đua và chủ thể tổ chức phong trào thi đua. Theo đó, đối tượng tham gia thi đua là công nhân, nông dân phải có đạo đức cách mạng, có trách nhiệm cao và tinh thần làm chủ tập thể. Tức là, thi đua phải trên tinh thần vì chủ nghĩa tập thể chứ không vì chủ nghĩa cá nhân, thi đua không trở thành ganh đua mà trong thi đua phải nêu cao tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Bên cạnh đó, chủ thể tổ chức phong trào thi đua ngoài việc có kế hoạch chu đáo còn phải có nhiều biện pháp thiết thực và quyết tâm cao. Tóm lại, muốn hoạt động thi đua có hiệu quả, trước hết phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao đạo đức cách mạng, làm cho mọi người có tinh thần làm chủ tập thể, triệt để thực hành, tiết kiệm chống tham ô, lãng phí, chống chủ nghĩa cá nhân. Mặt khác, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm, quyết tâm cao của cả người thi đua và người tổ chức phong trào thi đua.

Quán triệt và thực hiện lời dạy của Người, các phong trào thi đua, các cuộc vận động lớn của Quân đội đều dựa trên cơ sở thấm nhuần đạo đức cách mạng, hướng vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của các đơn vị và toàn quân và nhằm thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho. Phong trào thi đua quyết thắng trong Quân đội đã góp phần quan trọng tạo nên hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” và truyền thống tốt đẹp của quân đội nhân dân Việt Nam trong hơn 70 năm qua. Trong thời gian tới, Quân đội sẽ tiếp tục cụ thể hóa và vận dụng sáng tạo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào nâng cao chất lượng, hiệu quả các phong trào thi đua, các cuộc vận động; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chi Minh, rèn luyện đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật; chủ động tích cực trong công tác, độc lập sáng tạo trong công việc để hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Ngày 13/2

“Tư tưởng bảo thủ là như những sợi dây cột chân cột tay người ta, phải vất nó đi. Muốn tiến bộ thì phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ dám làm”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Thư gửi đồng bào và cán bộ xã Nam Liên (nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), ngày 13/2/1962 sau khi Người nhận được thư chúc tết của đồng bào xã Nam Liên. Đây là thời kỳ đẩy mạnh thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu. Do vậy, phát triển nông nghiệp trong bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ là vấn đề được Hồ Chí Minh rất quan tâm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tác hại của tư tưởng bảo thủ. Người ví nó như một sự trói buộc, ngăn cản sự tiến bộ của con người. Mặt khác, Người đã cổ vũ tinh thần đổi mới, mạnh dạn, dám nghĩa dám làm trong phát triển sản xuất và xây dựng hợp tác xã. Hơn nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên phải nêu gương cho quần chúng trong việc chủ động, kiên quyết khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, đường mòn lối cũ, chậm đổi mới.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh mặc dù được viết trong thư gửi một địa phương cụ thể, nhưng đã toát lên được tư tưởng đổi mới, sáng tạo của Người. Nó có sức cố vũ cán bộ và nhân dân xã Nam Liên nói riêng, và đồng bào cả nước nói chung tích cực phấn đấu, nêu cao sáng kiến trong lao động, sản xuất, học tập, công tác cũng như chiến đấu. Lời dạy của Người đã tạo nên phong trào thi đua phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực, nhất là trong nông nghiệp và công nghiệp, góp phần quan trọng vào quá trình hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.

Thấm nhuần lời dạy của Người, trong Quân đội đã dấy lên phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến vũ khí, trang bị kỹ thuật, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngày nay, sự nghiệp xây dựng Quân đội đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đặt ra yêu cầu ngày càng cao về tinh thần mạnh dạn đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để có được nhiều sáng kiến mới, cách làm hay trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và phát huy nhân tố con người trong Quân đội. Do vậy, mỗi quân nhân cần chủ động đổi mới cách nghĩ, cách làm, đề cao tự phê bình và phê bình để khắc phục những tư tưởng bảo thủ, đường mòn lối cũ, nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, góp phần bảo đảm cho đơn vị và toàn quân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.

Ngày 14/2

“Chế độ ta là chế độ dân chủ nhân dân; chúng ta cần mở rộng dân chủ với nhân dân, đồng thời cần phải tăng cường chuyên chính với kẻ địch của nhân dân. Có tăng cường chuyên chính với kẻ địch thì mới bảo vệ được tự do và dân chủ của nhân dân ta”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nêu trong Báo cáo trước Hội nghị Đại biểu nhân dân Thủ đô về thành công của Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa I, ngày 14/2/1957. Qua đây, Hồ Chí Minh vừa trình bày những nội dung cơ bản của kỳ họp, vừa thể hiện rõ tinh thần, bản chất của một chế độ mới mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang phấn đấu xây dựng.

 Lời dạy của Người thể hiện rõ nét bản chất tốt đẹp của chế độ dân chủ nhân dân là không ngừng mở rộng dân chủ với các tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. Tức là, bảo đảm cho nhân dân được làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mà trước hết là làm chủ về chính trị, có điều kiện và khả năng tham gia vào các quá trình chính trị của đất nước. Thực hiện quan điểm đó, trong Hiến pháp năm 1959 do Hồ Chí Minh làm Trưởng ban soạn thảo đã ghi rõ: Điều 4 “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân...” và Điều 7 “Nhà nước nghiêm cấm và trừng trị mọi hành động phản quốc, chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chống lại sự nghiệp thống nhất Tổ quốc”.

 Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng giúp đồng bào ta hiểu được bản chất của chế độ mới, qua đó mà tin tưởng, hăng hái phấn đấu, đóng góp sức mình vào xây dựng và bảo vệ nước nhà, ủng hộ đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước. Mặt khác, lời dạy của Người còn cho thấy mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ và chuyên chính, định hướng cho sự nghiệp xây dựng nền chính trị của dân, do dân, vì dân ở nước ta.

 

Quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ khi ra đời đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tỏ rõ là một quân đội của dân, do dân, vì dân, tuyệt đối trung thành với lợi ích của nhân dân, luôn sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, trong giai đoạn cách mạng mới, Quân đội cần phải phát huy cao độ dân chủ trong nội bộ, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Mặt khác, phải không ngừng xây dựng đơn vị vững mạnh, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Ngày 15/2

“Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất thiết tha với độc lập, tự do và hòa bình... Nhân dân Việt Nam quyết không khuất phục trước vũ lực và quyết không nói chuyện trước sự đe dọa của bom đạn”.

Đây là quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong Thư trả lời Tổng thống Mỹ Giônxơn, ngày 15/2/1967, đăng trên Báo Nhân dân, số 4730, ngày 22-3-1967. Trước đó, trong thư gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 8-2- 1967), Tổng thống Mỹ L.B. Giônxơn đã đưa ra những điều kiện vô lý cho việc chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam, chấm dứt việc đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Đồng thời, ngày 14-2-1967, L.B. Giônxơn lại ra lệnh ném bom trở lại miền Bắc. Để tiếp tục tỏ rõ thiện chí, nguyện vọng hoà bình của Việt Nam, ngày 15-2-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn gửi L.B. Giônxơn bức thư trả lời này.

 Qua đây, Hồ Chí Minh, khẳng định, khát vọng được sống trong hòa bình, độc lập, tự do. Và vì những điều đó mà nhân dân Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục trước bom đạn, cường quyền, sẽ quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng, tính mệnh, và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. Do đó, sẽ không có đàm phán nào được diễn ra nếu Mỹ không tôn trọng Hiệp định Giơnevơ, rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt sự đe dọa bằng bom đạn vào miền Bắc và khẳng định, không thế lực nào có thể dùng bom đạn cường quyền để ép nhân dân Việt Nam từ bỏ khát vọng chân chính của mình.

 Lời đáp trả đanh thép đó của Hồ Chí Minh đã tỏ rõ cho nhân dân Mỹ và toàn thế giới thấy được khát vọng và quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Mặt khác, đã động viên toàn thể dân tộc đứng lên kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi cuối cùng với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, các lực lượng quân giải phóng miền Nam nói riêng kết hợp chặt chẽ với nhân dân miền Nam đã đẩy mạnh đấu tranh quân sự trên cả ba vùng chiến lược làm xuất hiện nguy cơ sụp đổ hoàn toàn không thể cứu vãn nổi của giặc Mỹ và tay sai, góp phần quan trọng vào thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Ngày nay, Quân đội phải luôn quán triệt sâu sắc lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, biến nhận thức thành hành động cụ thể trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc.

 Ngày 16/2

“Bác mong Không quân có nhiều Cốc hơn nữa”.

Đây là lời động viên, khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với Quân chủng Phòng không - Không quân tại Hội nghị gặp mặt các anh hùng Quân đội thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân, ngày 16 tháng 2 năm 1969. Đây là thời điểm quân và dân hai miền Nam - Bắc giành được nhiều thắng lợi quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam.

 Lời động viên, khen ngợi trên không những ghi nhận thành tích xuất sắc của Quân chủng Phòng không - Không quân nói chung, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Cốc nói riêng mà còn có ý nghĩa vô cùng to lớn khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức đồng tâm, hiệp lực đánh bại mưu đồ của đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai leo thang phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân nhằm đè bẹp ý chí, quyết tâm đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta. Lời khen ngợi “Bác mong Không quân có nhiều Cốc hơn nữa” còn là động lực chính trị tinh thần lớn lao, thôi thúc toàn quân, trong đó trực tiếp là Quân chủng Phòng không - Không quân nêu cao quyết tâm, tự hào với truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, kiên quyết một lòng sắt son với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, khẳng định, giá trị trường tồn về thắng lợi của chiến tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam anh hùng chống lại chiến tranh phi nghĩa.

 Ngày nay, tình hình thế giới và trong nước còn nhiều diễn biến phức tạp, tranh chấp chủ quyền biển đảo, nguy cơ chiến tranh xâm lược do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành, vẫn còn hiện hữu. Vì thế, lời động viên, khen ngợi “Bác mong Không quân có nhiều Cốc hơn nữa” vẫn giữ nguyên giá trị, tiếp tục được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta khơi dậy mạnh mẽ trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Với lịch sử hào hùng và truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, Quân chủng Phòng không - Không quân đã và đang ra sức xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để mãi mãi xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, hiện thực hóa lời mong của Bác “có nhiều Cốc hơn nữa”, xứng đáng là Quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Ngày 17/2

Con cháu Lạc Hồng, bao giờ cũng quật cường, không bao giờ sợ khổ”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong Thư gửi đồng bào tản cư, ngày 17 tháng 2 năm 1947: “Tôi và Chính phủ không giờ phút nào không lo lắng đến các đồng bào. Bây giờ đang cực khổ, thì chúng ta vui chịu với nhau. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, chúng ta sẽ cùng nhau vui sướng, Con cháu Lạc Hồng, bao giờ cũng quật cường, không bao giờ sợ khổ”.

 Lời động viên trên không những thể hiện sự quan tâm, lo lắng, sẻ chia của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào tản cư đang ngày đêm chịu cảnh cực khổ khi nước nhà bị thực dân Pháp xâm lược, mà còn khẳng định truyền thống giống nòi, ý chí sắt đá, vượt khó vươn lên, tinh thần quật cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta được hình thành và phát triển ngay từ buổi đầu dựng nước và giữ nước. Qua hàng trăm cuộc khởi nghĩa và hàng chục cuộc kháng chiến lớn nhỏ, lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta đã để lại một di sản quý báu, đó là truyền thống đấu tranh anh hùng, bất khuất, bảo vệ độc lập dân tộc. Truyền thống anh hùng chống giặc ngoại xâm xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn của mọi người dân, là nguồn động viên tinh thần lớn lao, có tác dụng duy trì tinh thần chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của nhân dân ta. Cũng chính lịch sử đấu tranh giữ nước đã tạo ra và hun đúc ý chí, tự lực, tự cường dân tộc Việt Nam. Nhân dân ta nhận thức sâu sắc rằng: Nước mất thì nhà tan, do đó muốn mưu cầu tự do, ấm no, hạnh phúc, trước hết phải đấu tranh bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.

 Ngày nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang đồng tâm, hợp lực đẩy mạnh và thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước vừa có những thuận lợi, khó khăn đan xen. Trước yêu câu đó, lời động viên “Con cháu Lạc Hồng, bao giờ cũng quật cường, không bao giờ sợ khổ” vẫn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, cỗ vũ, động viên nhân dân ta, Quân đội ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng nhất định sẽ chiến thắng đói nghèo, lạc hậu; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Đồng thời, nhắc nhở mỗi người dân Việt Nam nói chung, mỗi quân nhân trong Quân đội ta nói riêng hãy bằng những hành động, việc làm cụ thể trong lao động, chiến đấu, thể hiện nghị lực vượt mọi khó khăn, quyết tâm làm tròn chức trách, nghĩa vụ của người cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, với tinh thần hăng say, suy nghĩ, kiến tạo và cống hiến để thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh chính là hiện thực hóa con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó còn là sự trân trọng lịch sử, sự tôn vinh các anh hùng, liệt sĩ và cũng là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong tình hình mới

Ngày 18/2

“Các cô các chú phải trau dồi cả đức cả tài, không có đức thì vô dụng, không có tài thì làm gì cũng khó”.

 Là căn dặn của Chủ tịch Hồ với các sinh viên khi Người đến thăm khu Việt Nam học xá, trong bối cảnh sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, miền Bắc bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, kiến thiết nước nhà, là hậu phương vững chắc cho chiến trường miền Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Lời căn dặn trên, không chỉ khẳng định giá trị cơ bản của một con người là tài và đức mà còn đòi hỏi mỗi sinh viên Việt Nam, chủ nhân tương lai của nước nhà phải trau dồi cả đức, cả tài; phải nhận thức sâu sắc mối quan hệ hữu cơ giữa đức và tài. Đức chính là đạo đức, là tư cách tác phong, là lòng nhiệt tình, là những khát vọng chân, thiện, mĩ... Tài chính là tài năng, là kiến thức, là hiểu biết, là kĩ năng, kĩ xảo, là kinh nghiệm sống để con người có thể hoàn thành công việc của mình một cách tốt nhất, đặc biệt là trong những hoàn cảnh khó khăn, những tình huống phức tạp. Tài và đức là những phạm trù khác nhau nhưng gắn bó chặt chẽ không thể tách rời. Đức và tài bổ sung, hỗ trợ cho nhau để con người trở thành toàn diện, đạt hiệu quả cao trong quá trình làm việc và cống hiến. Đức được coi là hàng đầu, là cái gốc của người cách mạng. Chính vì thế, thiếu đức con người trở thành vô dụng, thiếu tài người ta làm việc gì cũng khó. Cách nói của Bác rất giản dị và cụ thể, giúp ta nhận thức đúng đắn hơn về vai trò quan trọng của đức, của tài trong phẩm chất, năng lực của mỗi con người. Lời căn dặn ấy chính là động lực mạnh mẽ thôi thúc các sinh viên Việt Nam không ngừng phấn đấu vươn lên rèn đức, luyện tài, vì ngày mai lập nghiệp, góp sức kiến thiết nước nhà, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

 Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tuy có nhiều thuận lợi, nhưng khó khăn, thách thức luôn đặt ra với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lời căn dặn: “Các cô các chú phải trau dồi cả đức cả tài, không có đức thì vô dụng, không có tài thì làm gì cũng khó” vẫn còn giữ nguyên giá trị không chỉ với các sinh viên Việt Nam mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với mỗi quân nhân trong quân đội. Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Người, mỗi quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn phát huy bản chất “Bộ đội Cụ Hồ” tích cực học tập, rèn luyện cả đức và tài; tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội; xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống; không ngừng nâng cao trình độ, năng lực, phương pháp tác phong công tác; nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, làm chủ vũ khí trang bị, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Ngày 19/2

“Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô các chú phải là người tốt”.

 Là lời căn dặn sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói chuyện tại Hội nghị cán bộ phụ trách thiếu nhi toàn miền Bắc, ngày 19 tháng 2 năm 1959. Đây là thời kỳ miền Bắc bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, kiến thiết đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; là hậu phương vững chắc, cung cấp sức người, sức của cho đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Lời dạy trên, có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ thể hiện sự quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng các em thiếu niên nhi đồng, thế hệ trẻ tương lai của đất nước mà còn nhắc nhở đội ngũ cán bộ đào tạo mẫu giáo phải tự mình tu dưỡng, rèn luyện thực sự là người tốt, là tấm gương mẫu mực, trong sáng cho trẻ em học tập và noi theo. Đồng thời, thể hiện tư tưởng chỉ đạo đối với nền giáo dục nước nhà, biến quá trình đào tạo, giáo dục thành tự đào tạo, tự giáo dục. Người đi giáo dục trước hết phải tự giáo dục; phải là người tốt, người có tâm, có đức, yêu ngành, yêu nghề, thương yêu con trẻ như chính bản thân mình; dạy cho các em những điều hay, lẽ phải, những đức tính tốt, truyền thống thương

Ngày nay, trước những diễn biến phức tạp của đời sống chính trị, xã hội trong nước và quốc tế, trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam, trước yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, lời căn dặn “Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô các chú phải là người tốt” vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Tư tưởng đó, đã, đang và sẽ được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy mạnh mẽ, góp phần thực hiện thắng lợi đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo. Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất, lời dạy của Bác là nguồn cổ vũ, động viên cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu; ra sức học tập, trau dồi về phẩm chất đạo đức cách mạng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác; mỗi cán bộ, đảng viên phải là tấm gương tự giác đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện tốt Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; xây dựng con người mới trong quân đội vừa “hồng”, vừa “chuyên” đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ngày 20/2

“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt".

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, ngày 20-2-1947, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt. Mặc dù phải chỉ đạo kháng chiến nhưng Bác vẫn dành thời gian đi thăm và nói chuyện với cán bộ, nhân dân các địa phương, trong đó có tỉnh Thanh Hóa.

Lời căn dặn trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó là, cán bộ phải là mắt xích quan trọng, là dây chuyền của bộ máy, giúp cho bộ máy hoạt động có chất lượng, hiệu quả. Người còn nhấn mạnh, khẳng định vị trí, vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ, theo đó, cán bộ là cái gốc của mọi công việc và cái gốc của cán bộ chính là đạo đức cách mạng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng quần chúng không được giáo dục, không được tập hợp thành một khối thống nhất thì cách mạng cũng không đi đến thành công. Trách nhiệm của người cán bộ là người tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân và tập hợp quần chúng nhân dân thành một khối thống nhất mới tạo ra sức mạnh tổng hợp và đưa cách mạng đến thành công. Cán bộ còn là cầu nối, là dây chuyền của bộ máy, phải thực sự tận tâm, tận lực với công việc, thực sự là tấm gương trước quần chúng nhân dân, thực sự là công bộc của dân.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lời căn dặn của Bác: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt” vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa to lớn, là tư tưởng chỉ đạo trong công tác cán bộ của Đảng ta, đồng thời là yêu cầu, đòi hỏi đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ trong quân đội nói riêng phải không ngừng học tập, tu dưỡng về phẩm chất, năng lực, thực sự là hạt nhân đoàn kết, gương mẫu, tiêu biểu về mọi mặt, tận tâm tận lực với công việc, là tấm gương sáng trong từng đơn vị để cán bộ, chiến sĩ học tập, noi theo, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Ngày 21/2

“Các cô, các chú là những thầy giáo, những cán bộ giáo dục đều phải luôn luôn cố gắng học thêm, học chính trị, học chuyên môn. Nếu không tiến bộ mãi, thì sẽ không theo kịp đà tiến chung, sẽ trở thành lạc hậu”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói chuyện tại Đại hội chiến sĩ thi đua toàn ngành giáo dục, ngày 21 tháng 2 năm 1956: “Các cô, các chú đã thấy trách nhiệm to lớn của mình, đông thời cũng thấy khả năng của mình cần được nâng cao thêm lên mãi mới làm tròn nhiệm vụ được. Vì thế, các cô, các chú là những thầy giáo, những cán bộ giáo dục đều phải luôn luôn cố gắng học thêm, học chính trị, học chuyên môn. Nếu không tiến bộ mãi, thì sẽ không theo kịp đà tiến chung, sẽ trở thành lạc hậu ”.

Vào đầu năm 1956, khi miền Bắc vừa mới bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đầy khó khăn gian khổ, lời căn dặn trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định ý nghĩa của việc học tập kinh nghiệm các nước anh em là rất cần thiết mà còn nhắc nhở, động viên đội ngũ giáo viên và cán bộ ngành giáo dục phải nêu cao trách nhiệm, phải thấy rõ trách nhiệm lớn lao của mình đối với Đảng, với Chính phủ và với nhân dân. Đồng thời, thấy rõ khả năng của mình để phấn đấu nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ mọi mặt cả trình độ lý luận chính trị, cả chuyên môn nghiệp vụ thì mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng, nếu không sẽ tụt hậu. Đặc biệt là học tập kinh nghiệm của các nước anh em để ứng dụng theo yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng. Thực hiện lời dạy của Bác, nhân dân cả nước nói chung, ngành giáo dục nói riêng đã ra sức học tập, trau dồi những kinh nghiệm để phục vụ cho sự nghiệp giáo dục và kiến thiết nước nhà.

Ngày nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lời dạy “Các cô, các chú là những thầy giáo, những cán bộ giáo dục đều phải luôn luôn cố gắng học thêm, học chính trị, học chuyên môn. Nếu không tiến bộ mãi, thì sẽ không theo kịp đà tiến chung, sẽ trở thành lạc hậu” vẫn còn vẹn nguyên giá trị, là tư tưởng chỉ đạo để thực hiện thắng lợi việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực của đất nước. Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ quân đội nói chung, cán bộ giảng dạy trong các học viện, trường quân đội nói riêng càng phải tích cực phấn đấu học tập, nghiên cứu, tiếp thu cái mới, ra sức rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ chính trị, năng lực chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Ngày 22/2

“Theo đúng đường lối thì đi đến nơi, về đến chốn...”

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Đường lối chung của Đảng và Chính phủ ở nông thôn”. Năm 1957, khi công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta ở miền Bắc bắt đầu những bước đi đầu tiên, nên cần phải đi cho đúng, đặc biệt là ở nông thôn, phải xác định những bước đi phù hợp.

Lời nói trên của Bác có ý nghĩa rất lớn, khẳng định tầm quan trọng của đường lối cách mạng trong tập hợp, dẫn dắt quần chúng nhân dân. Đi theo đúng đường lối của Đảng thì sẽ đến thành công, sẽ phát huy được khối đại đoàn kết toàn dân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng; đồng thời, qua đó cũng nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên nếu xác định sai đường lối, đi sai đường lối thì sẽ không tập hợp được quần chúng nhân dân, thậm chí dẫn đến thất bại. Thực hiện lời dạy của Bác, nhân dân ta nói chung, đội ngũ cán bộ nói riêng luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng, đường lối của Đảng; ra sức học tập, lao động sản xuất và công tác theo nhiệm vụ, chức trách để hiện thực hóa đường lối của Đảng vào cuộc sống, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ngày nay, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng nâng cao, song lời dạy “Đường lối là để mà đi. Theo đúng đường lối thì đi đến nơi, về đến chốn…” vẫn còn nguyên giá trị, là cơ sở quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh việc thực hiện thắng lợi đường lối chính trị, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời, là phương châm chỉ đạo, để đội ngũ cán bộ, dù ở cương vị nào cũng phải là người đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân. Đặc biệt, phải coi trọng tuyên truyền đúng và hướng dẫn nhân dân thực hiện đúng, thì công việc sẽ suôn sẻ và đi đến thành công.

Ngày 23/2

“Và bất kỳ làm công việc gì, ở địa vị nào mà làm tròn nhiệm vụ đều là vẻ vang, đều là anh hùng”.

 Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được trích trong bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Lạng Sơn, ngày 23 tháng 2 năm 1960, khi mà công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Nhân dân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, chúng ta chuẩn bị bước vào Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, Bác đã dành thời gian đi thăm và nói chuyện đồng bào và cán bộ tỉnh Lạng Sơn.

Lời căn dặn trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý rất lớn lao không chỉ động viên, khích lệ tinh thần hăng say lao động, xây dựng nước nhà to đẹp hơn, đàng hoàng hơn mà còn nhắc nhở mọi người dù ở cương vị nào, cán bộ, công nhân, nông dân, trí thức hay lao động chân tay, dù làm bất kỳ công việc gì thì cũng đều phải tận tâm, tận lực phấn đấu thực hiện cho tốt, dù khó khăn đến đâu cũng phải làm cho kỳ được. Nếu thành công thì đều là vẻ vang, đều xứng danh anh hùng, đều được Nhân dân thừa nhận.

 Ngày nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam chủ nghĩa xã hội, là sự nghiệp rất khó khăn, lâu dài, do đó lời dạy “Và bất kỳ làm công việc gì, ở địa vị nào mà làm tròn nhiệm vụ đều là vẻ vang, đều là anh hùng” vẫn còn giữ nguyên giá trị, lời dạy của Bác, đã và đang là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạng sự nghiệp đổi mới, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, dù làm việc gì, ở bất cứ cương vị nào cũng phải không ngừng cố gắng vươn lên, phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ theo cương vị chức trách, xứng đáng với lòng tin của Nhân dân, được Nhân dân thừa nhận thì đó là vẻ vang, là anh hùng, góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang “Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Ngày 24/2

“Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư khen ngợi toàn thể bộ đội khu II và khu III về thành tích đã xóa nạn mù chữ, ngày 24 tháng 2 năm 1948. Ngay sau cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát động phong trào toàn dân, toàn quân xóa nạn mù chữ. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đơn vị bộ đội đã tích cực xóa nạn mù chữ, làm cho các binh sĩ đều biết đọc, biết viết, trong đó tiêu biểu là bộ đội khu II và khu III. Biết tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư khen ngợi về thành tích đã xóa nạn mù chữ của toàn thể bộ đội khu II và khu III. Người cho rằng, dốt nát là một kẻ địch. Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm. Địch ngoại xâm dựa vào địch dốt nát để thi hành chiến lược ngu dân.

Lời động viên, khen ngợi kịp thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ cổ vũ, khích lệ tinh thần tích cực, hăng say học tập văn hóa của cán bộ, chiến sỹ trong quân đội mà còn thể hiện tư tưởng chỉ đạo, phương châm giáo dục học phải đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với chiến trường, quân sự gắn với chính trị. Nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình, đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, mỗi cán bộ, chiến sỹ trong quân đội đã thấu suốt rằng không chỉ có đánh giặc giỏi mà cần phải có trình độ văn hóa, phải không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, có kiến thức toàn diện về chính trị, quân sự, nghiệp vụ (văn võ song toàn) ý thức tổ chức kỷ luật, sức khỏe mới hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

Trong tình hình hiện nay, trước những diễn biến phức tạp, khó lường của thế giới, khu vực và trong nước làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội, lời động viên, khen ngợi “Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch” vẫn giữ nguyên giá trị, là nguồn động viên, cổ vũ để mỗi quân nhân trong quân đội không ngừng tích cực học tập, nghiên cứu, lý luận; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tăng cường rèn luyện về phương pháp, tác phong công tác; trình độ chuyên môn, năng lực, nghiệp vụ, làm chủ vũ khí, trang bị, kỹ thuật. Thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng và với Nhân dân; lấy học tập chính trị, lý luận làm nền tảng; lấy học tập chuyên môn quân sự làm nòng cốt; lấy học tập văn hóa - xã hội làm động lực; lấy đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tiêu chí để phấn đấu hoàn thiện phẩm chất, năng lực đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới.

Ngày 25/2

"Quân đội ta là quân đội nhân dân. Chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân. Quân đội phải gắn chặt với dân"

 

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn quân đội được thể hiện trong phiên bế mạc Hội nghị Bộ Chính trị, ngày 25 tháng 2 năm 1960. Sau khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960) đã thành công tốt đẹp; công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Nhân dân ta ở miền Bắc đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần đảm bảo cho đấu tranh chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong đó có sự đóng góp đáng kể của quân đội ta.

Lời căn dặn “Quân đội ta là quân đội nhân dân. Chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân. Quân đội phải gắn chặt với dân” không chỉ khẳng định bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của quân đội ta mà còn thể hiện sâu sắc mối quan hệ gắn bó keo sơn giữa quân đội với Nhân dân. Đồng thời, khẳng định tính chất chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân, chiến tranh chính nghĩa, bảo vệ Tổ quốc. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, là quân đội của dân, do dân, vì dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập chủ quyền, chế độ xã hội, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ tính mạng, tài sản và quyền làm chủ của Nhân dân. Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác, trải qua hơn 73 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, cùng toàn Đảng, toàn dân lập nên những chiến công vang dội, đánh thắng hai đế quốc đầu xỏ xâm lược là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Chính là hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo “chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày nay, nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức, những tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường; sự chống phá của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hoà bình” với những thủ đoạn hết sức thâm độc nhằm chia rẽ quân đội với Nhân dân, song lời căn dặn “Quân đội ta là quân đội nhân dân. Chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân. Quân đội phải gắn chặt với dân” vẫn còn nguyên giá trị. Nhận thức sâu sắc ý nghĩa, giá trị lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn nêu cao tinh thần đoàn kết quân dân, kính trọng Nhân dân, giúp đỡ Nhân dân, phục vụ Nhân dân... là những việc làm thiết thực để củng cố, tăng cường mối quan hệ quân dân, nhân tố quan trọng đảm bảo cho thắng lợi của sự nghiệp xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.

Ngày 26/2

“Y tá là những chiến sĩ đánh giặc ốm, để bảo vệ sự khang kiện của giống nòi. Những chiến sĩ y tá phải có chí chịu khổ, chịu khó. Phải giàu lòng bác ái hy sinh”.

 Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư gửi nam nữ học viên Trường Y tá liên khu I; đăng trên báo Cứu quốc ngày 26 tháng 2 năm 1949. Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thi đua, thực hiện kháng chiến kiến quốc chống thực dân Pháp xâm lược, Người cho rằng, mỗi người y tá và tất cả mọi người làm ngành y, phải là một chiến sĩ trên mặt trận đánh “giặc ốm” nhằm bảo vệ sức khỏe của Nhân dân, bảo vệ giống nòi cho tương lai của dân tộc.

Lời dạy “Y tá là những chiến sĩ đánh giặc ốm, để bảo vệ sự khang kiện của giống nòi. Những chiến sĩ y tá phải có chí chịu khổ, chịu khó. Phải giàu lòng bác ái hy sinh” có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, vừa nói lên vị trí, vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ của những chiến sĩ y tá đối với sứ mệnh của Nhân dân, vừa khích lệ, động viên tinh thần chịu thương, chịu khó của mỗi y tá trong chăm sóc sức khỏe người bệnh. Thực hiện lời dạy của Bác, đội ngũ y tá luôn đề cao trách nhiệm, thường xuyên học tập, nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ; chủ động khắc phục mọi khó khăn, vất vả, thương yêu, chăm sóc, điều trị bệnh nhân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc.

Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lời dạy “Y tá là những chiến sĩ đánh giặc ốm, để bảo vệ sự khang kiện của giống nòi. Những chiến y tá phải có chí chịu khổ, chịu khó. Phải giàu lòng bác ái hy sinh” không những vẫn giữ nguyên giá trị, tiếp tục là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động trong chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn là yêu cầu đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nói chung, đội ngũ y tá nói riêng phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho Nhân dân.

Quân đội nhân dân Việt Nam thấm nhuần lời dạy của Bác, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ quân y đã không ngừng học tập, nâng cao trình độ, đề cao trách nhiệm, chịu thương, chịu khó, chịu khổ, thực hiện tốt nhiệm vụ, chức trách, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn sức khỏe cho Nhân dân, cho bộ đội. Trong xu thế hội nhập, phát triển, sự đầu tư, quan tâm đến các cơ sở y tế của Đảng, Nhà nước ngày càng tốt hơn. Song cho dù các cơ sở y tế có trang bị máy móc hiện đại đến đâu, cũng không thể thay thế được vị trí, vai trò của người đội ngũ y bác sĩ, y tá. Chính vì vậy, đội ngũ y bác sĩ, y tá trong quân đội cần nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò quan trọng của mình, không chỉ giỏi về nghiệp vụ và chăm sóc người bệnh mà còn phải biết cách động viên, an ủi người bệnh và gia đình bệnh nhân, đồng thời còn là người tư vấn, hướng dẫn, giáo dục sức khỏe cho Nhân dân, cho bộ đội để xứng đáng là những người chăm sóc, bảo vệ giống nòi cho đất nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong mỏi. 

Ngày 27/2

“Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu” câu nói ấy rất đúng”.

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, ngày 27 tháng 2 năm 1955. Đây là thời điểm sau thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, miền Bắc bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, kiến thiết nước nhà, chuẩn bị cung cấp sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, chống đế quốc Mỹ xâm lược. Người yêu cầu các cán bộ y tế trong toàn ngành phải nêu cao tinh thần đoàn kết; thương yêu người bệnh; quan tâm chăm lo phát triển nền y học nước nhà.

Lời dạy: “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu” câu nói ấy rất đúng” có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ nhắc nhở, yêu cầu người cán bộ y tế giỏi về chuyên môn mà còn phải có tình thương yêu và lòng tận tụy, trách nhiệm với người bệnh. Tránh hiện tượng thiếu trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm gây ra hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe, tính mạng của người bệnh. Thấm nhuần lời dạy của Bác, đội ngũ cán bộ y tế đã không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, tâm huyết với nghề nghiệp, thấu hiểu tâm lý bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, luôn có lòng nhân ái, yêu thương người bệnh, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện y đức, coi sinh mệnh của bệnh nhân như sinh mệnh của mình và người thân của mình, coi sự đau đớn của họ như đau đớn của chính mình, góp phần chăm sóc tốt sức khỏe cho người bệnh.

Trong tình hình hiện nay, việc chăm lo hạnh phúc, phát triển toàn diện con người Việt Nam đặt ra yêu cầu mới, lời dạy của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, chính là tư tưởng chỉ đạo, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quan tâm, chăm lo, thực hiện chiến lược đó. Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân nhân vì vậy, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nói chung, ngành quân y trong Quân đội nói riêng phải nhận thức đúng đắn và quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác. Tích cực rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, giỏi về y thuật và trong sáng về y đức; đẩy mạnh việc học tập và làm theo lời Bác dạy. Ngành quân y trong Quân đội cần tiếp tục tổ chức nhiều chương trình hành động thiết thực, hướng về cộng đồng. Tổ chức có hiệu quả hơn nữa các hoạt động tình nguyện, khám chữa bệnh miễn phí đến vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ở các cơ sở y tế trong Quân đội cho bộ đội và nhân dân. Thực hiện có hiệu quả phong trào “chiến sỹ quân y làm theo lời Bác Hồ dạy” để thực sự xứng đáng là “mẹ hiền”, là “từ mẫu” của bệnh nhân.

 Ngày 28/2

“Thẳng thắn tự phê bình và thật thà phê bình tức là đoàn kết mà đấu tranh và do đấu tranh đó đã đi đến đoàn kết hơn trước”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích ở bài nói chuyện trong buổi bế mạc Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ II, ngày 28 tháng 2 năm 1957. Đầu năm 1957, miền Bắc hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội được hơn 2 năm, công tác văn nghệ cũng đã có bước phát triển mới và thành tựu mới, đến dự với Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 2 Bác đã phát biểu: “Thẳng thắn tự phê bình và thật thà phê bình tức là đoàn kết mà đấu tranh và do đấu tranh đó đã đi đến đoàn kết hơn trước”. 

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ khẳng định tầm quan trọng của tự phê bình, phê bình, của đấu tranh đối với đoàn kết, thống nhất trong mỗi tổ chức, mỗi người nói chung, đội ngũ cán bộ, nghệ sĩ nói riêng phải luôn đề cao ý thức phê bình, ý thức đấu tranh để xây dựng, củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong mỗi cơ quan, đơn vị, ngành mình. Đồng thời, phải nhận thức sâu sắc đấu tranh, phê bình và tự phê bình chính là quy luật, động lực của sự phát triển. Đấu tranh, phê bình phải thật thà, trung thực, không lợi dụng phê bình để trù dập lẫn nhau. Đấu tranh, phê bình để đi đến thống nhất, đoàn kết hơn, cùng nhau phát triển, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá để vững bước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, lời dạy “Thẳng thắn tự phê bình và thật thà phê bình tức là đoàn kết mà đấu tranh và do đấu tranh đó đã đi đến đoàn kết hơn trước" vẫn giữ nguyên giá trị, không những là tư tưởng chỉ đạo mà còn là yêu cầu đòi hỏi các tổ chức đảng, đoàn thể cách mạng phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất như giữ gìn con ngươi của mắt mình, phải tích cực đấu tranh, tự phê bình và phê bình, tự phê bình và phê bình có tình thân ái, phải đúng người, đúng việc, phải thật thà trung thực để đi đến đoàn kết và phát triển ngày càng tốt hơn.

Trong quân đội, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần quán triệt và thực hiện nghiêm lời dạy của Bác; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; chấp hành nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình để đi đến đoàn kết, thống nhất trong từng đơn vị chính là hiện thực hoá lời dạy của Bác; tránh lợi dụng đấu tranh, phê bình và tự phê bình để chia rẽ đoàn kết nội bộ, trù dập lẫn nhau, làm ảnh hưởng đến uy tín, nhân phẩm của đồng chí, đồng đội.


Chia sẻ:

Để lại bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *