Ngày 1/4
“Trí tuệ và sáng kiến của quần chúng là vô cùng tận”.
Câu trên được trích trong lưu bút của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi tại cuộc triển lãm ngành Hậu cần Quân đội ngày 1-4-1958. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy nguồn lực vật chất (tài nguyên thiên nhiên, vốn liếng...) là hữu hạn; còn nguồn lực trí tuệ, khả năng sáng tạo của con người là vô hạn. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trên cương vị là Chủ tịch nước, Người đã có bài viết với tiêu đề “Tìm người tài-đức” đăng trên Báo Cứu quốc. Bài viết thể hiện sự quan tâm, trân trọng, ghi nhận, đánh giá cao, sử dụng trí thức trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; thể hiện rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải sớm đoàn kết, tập hợp đội ngũ trí thức trong nước và thu hút trí thức Việt kiều ở nước ngoài, tạo điều kiện tối đa cho trí thức phát huy tài năng, kiến thức của mình phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.
Phát huy truyền thống, kế thừa những giá trị nhân văn sâu sắc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, chương trình quốc gia và đầu tư cơ sở vật chất thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, thể hiện sự quan tâm sâu sắc và đánh giá cao vai trò của trí thức, của khoa học công nghệ, coi đây là nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước đưa kinh tế tri thức giữ vai trò chủ đạo trong tỷ trọng tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và phát động trong cán bộ, chiến sĩ đơn vị tích cực hưởng ứng, thực hiện có hiệu quả các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiến quân vào khoa học công nghệ… Hằng năm, toàn quân có hàng nghìn đề tài, công trình, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được đưa vào ứng dụng đạt hiệu quả thiết thực, làm lợi cho Nhà nước, quân đội nhiều tỷ đồng, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, SSCĐ, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhất là tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các cơ quan, đơn vị và mọi cán bộ, chiến sĩ phải luôn phát huy tiềm năng trí tuệ, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, SSCĐ, xây dựng đơn vị VMTD, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Ngày 2/4
“…Trong lúc lật đổ những tường vách cũ kỹ và đang xây đắp những ngôi lâu đài mới thì chắc chắn không khỏi có những mụn bào gạch bể và những thứ ghét rác khác. Chúng ta sẽ quét sạch dần dần…” .
Trích trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời ông Hoàng Phan Kính và ông Trần Lê Hữu ngày 2 tháng 4 năm 1949. Bản chất câu nói đó của Bác, chính là sự đổi mới. Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội cũng như trong tư duy. Đổi mới là thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ đã lỗi thời, lạc hậu, bằng cách nghĩ, cách làm mới khoa học hơn, hiệu quả hơn, hợp với quy luật của sự phát triển, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, kế thừa những kinh nghiệm, nghệ thuật trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha, ông; tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa nhân loại, Bác đã cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, với bước đi, hình thức và cách làm phù hợp, không nôn nóng, đốt cháy giai đoạn, không phủ định sạch trơn… với mục tiêu: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên đã và đang đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng.
Nhìn lại chặng đường hơn 30 năm đổi, Đảng ta đã đánh giá và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu; đó là: Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam. Cùng với đổi mới và phát triển, phải kiên quyết đấu tranh xóa bỏ những tàn dư của xã hội cũ, nhất là những tập tục, nếp nghĩ, cách làm đã lạc hậu; đổi mới, phát triển, đồng thời phải biết kế thừa những tinh hoa, truyền thống tốt đẹp...
Thấm nhuần lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, mà thường xuyên, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, toàn quân đã luôn đề cao tinh thần đổi mới, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, trong lộ trình tiến lên hiện đại đã lựa chọn, ưu tiên, đầu tư cho một số quân, binh chủng, vừa bảo đảm việc tăng cường sức mạnh và tiềm lực quân sự, quốc phòng của đất nước, vừa không ảnh hưởng đến bảo đảm an sinh xã hội. Trên mọi lĩnh vực công tác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải tích cực học tập, nghiên cứu, không ngừng đổi mới, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, huấn luyện, khai thác, làm chủ các loại vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật hiện có và mới, hiện đại được biên chế, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Ngày 3/4
"Giúp nhân dân nước bạn là tự giúp mình.Đó là lời của Bác được trích trong thư gửi các đơn vị bộ đội có nhiệm vụ tác chiến ở Thượng Lào ngày 3-4-1953: Lần này là lần đầu tiên, các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước bạn. Mà giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”.
Thực hiện tuyên bố chung “Đoàn kết Việt-Miên-Lào chống Pháp”, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho Quân đội ta nhiệm vụ vừa giúp bạn tổ chức, xây dựng lực lượng, vừa cùng quân và dân nước bạn trực tiếp chiến đấu chống quân xâm lược. Người căn dặn cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta tham gia làm nhiệm vụ quốc tế, phải coi việc giúp đỡ bạn là tự giúp mình.
Thực hiện lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam luôn sát cánh, gắn bó, chiến đấu và sẵn sàng hy sinh để giúp đỡ quân đội và nhân dân nước bạn trên tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả, trong sáng và vô tư; cùng nhau đánh thắng kẻ thù chung, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân, xây dựng và phát triển đất nước.
Mối quan hệ, tình đoàn kết đặc biệt Việt-Lào mãi mãi là niềm tự hào của hai dân tộc. Đó là mối quan hệ mẫu mực hiếm có, trong sáng, hết mực thủy chung, được xây đắp trên tinh thần quốc tế vô sản, tạo nên một sức mạnh giúp nhân dân hai nước vượt qua mọi khó khăn, giành được thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.
Ngày nay, mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào vẫn được Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội hai nước không ngừng củng cố và tăng cường. Hợp tác chính trị ngày càng bền chặt, hợp tác quốc phòng, an ninh được giữ vững; hợp tác kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội ngày càng đa dạng… mang lại hiệu quả và lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thương nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/ Việt-Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”.
Quán triệt và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, tích cực giúp bạn, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.
Ngày 4/4
“Chúng tôi là những kẻ chiến thắng hiện tại cũng như trong tương lai, vì con đường của chúng tôi được học thuyết vĩ đại của Chủ nghĩa Mác - Lê nin soi sáng”.
Đó là lời được trích trong bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Bọn đế quốc cướp nước không bao giờ có thể nô dịch dân tộc Việt Nam anh dũng”, gửi tạp chí “Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân” - cơ quan ngôn luận của Cục Thông tin quốc tế.
Sự bắt gặp giữa yêu cầu giải phóng dân tộc, giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam với Chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết cách mạng của thời đại, đỉnh cao của tư tưởng xã hội loài người, là cuộc gặp gỡ lịch sử. Chủ nghĩa Mác - Lênin và những tư tưởng của Cách mạng Tháng Mười thông qua vai trò của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, đến với dân tộc Việt Nam, chấm dứt giai đoạn khủng hoảng về đường lối, đưa cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi.
Mặc dù chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã thoái trào, nhưng không ai có thể phủ định bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin; cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta, soi đường cho cách mạng Việt Nam tiếp tục giành những thắng lợi mới trên con đường tiến tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trước tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Đảng thì vấn đề căn bản nhất, sâu xa nhất, là Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn trên những nguyên tắc thật sự mác-xít - Lê-nin-nít, phải kiên quyết chống tha hóa biến chất, chống quan liêu, tham nhũng dưới mọi hình thức, ở tất cả các cấp, không để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đảng phải thật sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, gắn bó máu thịt với Nhân dân, được Nhân dân tin yêu, mới đủ năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua mọi nguy cơ thử thách để giành những thắng lợi mới.
Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, quân sự của Đảng, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có trí tuệ, tinh thông kỹ thuật, chiến thuật, luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, có lòng yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản cao cả; luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tin cậy, trung thành của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Hiện nay, các thế lực thù địch tìm mọi cách, mọi thủ đoạn hòng “phi chính trị hóa” Quân đội ta. Tình hình đó, đòi hỏi phải không ngừng củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quân đội, tăng cường sự nhất trí về chính trị, tư tưởng, tổ chức, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc, đấu tranh chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch về chính trị, tư tưởng.
Ngày 5/4
Trong thư gửi “Quân nhân học báo”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn, võ là như tay phải, văn là như tay trái của quân nhân. Biết võ, biết văn, mới là quân nhân hoàn toàn. Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”.
“Quân nhân học báo” là tập san chuyên hướng dẫn bộ đội ta học tập văn hoá, được xuất bản tại Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào toàn dân, toàn quân xóa nạn mù chữ. Hưởng ứng và thực hiện lời kêu gọi của Người, các đơn vị bộ đội đã phát động phong trào bộ đội tích cực học tập, xóa nạn mù chữ, với tinh thần người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ, người biết nhiều, dạy cho người biết ít, giúp các binh sĩ đều biết đọc, biết viết để diệt giặc dốt, để phục vụ quân đội, phục vụ kháng chiến. Theo Bác, địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm. Địch ngoại xâm dựa vào địch dốt nát để thi hành chiến lược ngu dân. Đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội, cùng với việc học chữ, còn phải tích cực học tập quân sự, nâng cao trình độ kỹ chiến thuật, rèn luyện thể lực để đủ sức khỏe, bản lĩnh chiến đấu, chiến thắng địch.
Lời động viên, khen ngợi của Bác đã kịp thời cổ vũ, động viên tinh thần tích cực học tập văn hóa của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, đồng thời thể hiện tư tưởng, chỉ đạo, phương châm giáo dục: Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn với chiến trường, quân sự gắn với chính trị. Theo Bác: “Một quân đội văn hay võ giỏi là một quân đội vô địch”.
Lời Bác dạy vẫn còn nguyên giá trị để cán bộ, chiến sĩ quân đội không ngừng tích cực học tập, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, quán triệt sâu sắc và chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Luôn đề cao và thực hành tự học; tích cực rèn luyện thân thể để có đủ trí, lực đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Ngày 6/4
" Về lãnh đạo, cán bộ phải thật sự đoàn kết, nhất trí, phải đi sâu đi sát, phải lãnh đạo thiết thực và toàn diện”.
Lời huấn thị trên được trích trong thông báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nội dung đợt chỉnh huấn cho toàn Đảng, toàn dân, do Trung ương phát động, khi Người về thăm và nói chuyện với đồng bào, cán bộ tỉnh Bắc Giang ngày 6-4-1961.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ phải đề cao và thực hành đoàn kết, nhất trí, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí như giữ gìn con ngươi của mắt mình, phải rèn luyện phong cách lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ, gắn bó với cơ sở, gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phải thiết thực và toàn diện, tránh phô trương, hình thức. Theo Bác, sau khi nghị quyết được ban hành, phải tổ chức tốt việc thực hiện nghị quyết, để nghị quyết đi vào cuộc sống. Muốn vậy, đòi hỏi người cán bộ phải sâu sát, tỉ mỉ, phải “đi tận nơi, xem tận chỗ”.
Thực hiện lời Bác dạy, hơn 80 năm qua, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của việc xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xem đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ sống còn của Đảng, của dân tộc. Đặc biệt, trong thời kỳ mới, Đảng luôn quan tâm lãnh đạo công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất; kiên quyết chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.
Sự nghiệp đổi mới đất nước đã thu được kết quả rất quan trọng, tiếp tục nâng cao vị thế, khẳng định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn giữ gìn sự đoàn kết nhất trí, phấn đấu hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Tuy nhiên, cũng còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng…
Để tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, kiên quyết đấu tranh, khắc phục những hạn chế, yếu kém, mỗi cán bộ, đảng viên trong Đảng nói chung, trong Đảng bộ Quân đội nói riêng, luôn gương mẫu đi đầu thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Cán bộ, đảng viên phải có tác phong dân chủ, quần chúng, sâu sát, gần gũi, chân thành lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và thành tâm tiếp thu sự phê bình của quần chúng, luôn đề cao tự phê bình và phê bình.
Ngày 7/4
"Phải coi nhân tố con người là vấn đề số một"Ngày 7-4-1965, với bút danh Lê Nông, Bác Hồ viết bài “Chúng ta có thể đạt hơn 5 tấn thóc cả năm/một héc-ta” đăng trên Báo Nhân Dân, để biểu dương một số hợp tác xã đã đạt chỉ tiêu này"
Bác cũng khẳng định có thể đạt năng suất cao hơn nữa, nếu quan tâm đến việc cải tiến khoa học, kỹ thuật, thực hành cần, kiệm trong xây dựng và tự lực cánh sinh; chi bộ lãnh đạo chặt chẽ, đảng viên gương mẫu xung phong, xã viên đoàn kết nhất trí.
Tôn trọng và phát huy sức mạnh của nhân tố con người với tư cách là chủ thể sáng tạo của lịch sử luôn là bài học kinh nghiệm thực tiễn phong phú mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta. Bác luôn coi trọng việc giáo dục về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, về đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là nguồn sức mạnh tinh thần, vật chất to lớn để giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tư tưởng quân sự của Bác với triết lý “người trước, súng sau” đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, chiến sĩ quân đội có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
Để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng, Nhà nước chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; bên cạnh việc đầu tư mới vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, Đảng, Nhà nước, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn đặt lên hàng đầu việc xây dựng nhân tố con người, coi đây là khâu then chốt, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta.
Ngày 8/4
“… Thanh niên phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng”.
Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của thanh niên và có nhiều nghị quyết, chỉ thị, chính sách tạo điều kiện để phát triển toàn diện thanh niên Việt Nam. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và tuổi trẻ Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành cùng sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, hun đúc nên truyền thống vẻ vang; được Đảng, Nhà nước ghi nhận, xã hội đánh giá cao; xứng đáng là trường học XHCN của tuổi trẻ, là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tiếp nối truyền thống của lớp lớp thế hệ cha anh đi trước, thế hệ thanh niên Việt Nam ngày nay trung thành tuyệt đối và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao lòng yêu nước, sẵn sàng dấn thân vì sự nghiệp cách mạng, tình nguyện vì cộng đồng, đến những nơi khó khăn, đảm nhận những việc mới, việc khó, tiên phong trong ứng dụng khoa học-công nghệ, xung kích trong xây dựng xã hội học tập, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Là một bộ phận quan trọng của thanh niên Việt Nam, thanh niên quân đội có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị. Do đó, sức mạnh tổng hợp, trình độ SSCĐ, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của quân đội liên quan mật thiết đến chất lượng và khả năng tập hợp, phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên quân đội. Muốn vậy, tổ chức đoàn phải tuân thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, hướng dẫn của cơ quan chính trị các cấp; quan tâm, chăm lo đến nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của thanh niên; tạo điều kiện để thanh niên có cơ hội cống hiến và trưởng thành. Ban Chấp hành Đoàn, đội ngũ cán bộ, đoàn viên, thanh niên quân đội nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực học tập, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, phẩm chất, đạo đức, lối sống trong sáng, động cơ, thái độ, trách nhiệm đúng đắn; có tri thức, trình độ kỹ chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ và sức khỏe tốt, thực sự là lực lượng xung kích, nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Ngày 9/4
“… Bất cứ một người lao động nào, dù thông minh đến đâu, đôi lúc cũng có thể sai lầm. Chỉ có những kẻ ngồi không mới không có sai lầm mà thôi. Nhưng làm việc mà có sai lầm còn hơn là sợ sai lầm mà khoanh tay ngồi không…"
Đó là đoạn trích trong bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956. Sau những sai lầm về cải cách ruộng đất, uy tín của Đảng ta phần nào bị giảm sút, Bác Hồ đã thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn nhận khuyết điểm trước Quốc hội. Nước mắt Người đã rơi trước những khuyết điểm do chủ quan, thiếu lắng nghe nhân dân, thiếu sâu sát thực tiễn cơ sở. Trước quốc dân đồng bào, Người không ngần ngại công khai khuyết điểm của Đảng, của Bác với tư cách người lãnh đạo cao nhất.
Quan điểm của Bác là cần công khai khuyết điểm, công khai để nhận lỗi, thêm quyết tâm sửa lỗi. Lịch sử đã chứng minh: Đảng ta ngày một lớn mạnh sau những lần công khai thừa nhận khuyết điểm và sửa chữa khuyết điểm, để đề ra được những quyết sách lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên, giành được những thắng lợi mới.
Đối với mỗi người, nhất là đối với người cán bộ, đảng viên, nếu có trách nhiệm với tổ chức, gia đình, bản thân thì trách nhiệm đó phải được biểu hiện bằng chính việc làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình những trọng trách cụ thể, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không thể né tránh, thoái thác. Ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân là sự tự ý thức về các công việc phải làm, “nhận rõ phải, trái, đúng sai”, tự mình xác định việc cần làm. Trên cơ sở có ý thức đúng đắn, tự giác, tích cực thực hiện trách nhiệm của mình là “có tinh thần trách nhiệm cao”. Phải dũng cảm, kiên quyết bảo vệ chân lý, bảo vệ cái đúng, cái tích cực; dũng cảm đấu tranh với những cái sai, khuyết điểm, cái tiêu cực; nghiêm khắc tự phê bình, phê bình, thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm của cá nhân và tổ chức mình, cầu thị, tích cực sửa chữa hạn chế, khuyết điểm. Xây dựng, rèn luyện bản lĩnh vững vàng, có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, phấn đấu vì cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn phát huy tinh thần, trách nhiệm, ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ, chuyên môn, triệt để chấp hành điều lệnh, điều lệ, không ngừng rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và tác phong chính quy, thực hiện làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh. Trong tổ chức thực hiện, phải luôn đề cao và phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, lấy hiệu quả công việc làm căn cứ quan trọng, là thước đo đánh giá trình độ, năng lực, trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân.
Ngày 10/4
“…Chi bộ là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chứ không phải là một tổ chức hành chính”.
Đó là lời được trích trong bài viết“Nhiệm vụ của chi bộ ở các cơ quan” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Báo Nhân Dân số 176 ra từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 4 năm 1954, nêu lên nhiệm vụ phát huy vai trò “chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan” để đẩy mạnh kháng chiến và cải cách ruộng đất thắng lợi.
Nhận rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chi bộ theo quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã sớm cụ thể hóa và không ngừng bổ sung, phát triển chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng phù hợp với từng loại hình, qua các kỳ Đại hội. Điều 27, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII xác định: “Chi bộ là nơi trực tiếp nối liền Đảng với quần chúng, được tổ chức theo nơi làm việc hoặc nơi ở của đảng viên. Chi bộ có nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện, quản lý, phân công và kiểm tra công tác của đảng viên, kết nạp đảng viên mới và thi hành kỷ luật đảng viên, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ trong phạm vi đơn vị”.
Với chức năng là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chi bộ phải có trách nhiệm cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, đơn vị; tiến hành tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị và quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nghị quyết và chức trách, nhiệm vụ được giao. Thông qua thực tiễn lãnh đạo ở cơ quan, đơn vị, chi bộ lắng nghe những kiến nghị, góp ý, phản ánh và tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và quần chúng về đường lối, chính sách đã ban hành để Đảng nghiên cứu, bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách cho đúng đắn, phù hợp. Chi bộ tuyệt đối không làm thay, lấn sang các công việc điều hành, quản lý của chính quyền, của đoàn thể.
Học tập và làm theo lời Bác dạy về phát huy đúng chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng; quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chi bộ trong Quân đội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Chấp hành nghiêm các nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, trọng tâm là chất lượng sinh hoạt ra nghị quyết lãnh đạo; thực hiện quy chế dân chủ, công khai; thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát... thực sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết trong cơ quan, đơn vị.
Ngày 11/4
“Không động viên được dân thì kế hoạch hay mấy cũng hỏng, lúc nào mọi kế hoạch đến tận dân, dân thực hiện, lúc đó mới thật là tổng động viên”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn như vậy trong phần kết luận Phiên họp của Hội đồng Chính phủ thảo luận về tình hình thế giới, tình hình quân sự, việc thực hiện chương trình ba tháng đầu năm và ra Nghị quyết về công tác ngoại giao, giáo dục, cải tổ bộ máy tư pháp, giao thông công chính, nội vụ, tổ chức ngày 11-4-1950.
Thực hiện chỉ huấn của Người, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đoàn kết, tập hợp và động viên không chỉ sức mạnh toàn dân tộc mà còn quy tụ được sự ủng hộ của kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, các nước anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, tạo thành sức mạnh tổng hợp để chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập, thống nhất nước nhà. Thành tựu của hơn 30 năm đổi mới, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, những kết quả bước đầu của các phong trào: “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Quốc gia khởi nghiệp”… những năm qua là một minh chứng về sức mạnh to lớn của các chủ trương, đường lối đúng đắn, hợp lòng dân và được nhân dân đồng tình ủng hộ, đúng như Bác đã khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân…”.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ quân đội thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, tích cực làm tốt công tác dân vận, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn; tuyên truyền sâu rộng về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để nhân dân hiểu, tin và thực hiện, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới.
Thấu triệt lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị các cấp trong toàn quân chú trọng làm tốt việc nghiên cứu, điều tra, khảo sát thấu đáo đặc điểm, tình hình của đơn vị, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tâm tư, nguyện vọng và khả năng của bộ đội để ban hành nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện kiêu ngạo, tham ô, lãng phí, quan liêu, xa rời quần chúng, độc đoán, gia trưởng, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.
Ngày 12/4
"Muốn cải tạo xã hội thì lòng mình phải cải tạo. Nếu lòng mình không cải tạo thì đừng nói đến cải tạo xã hội”.
Đó là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lớp chỉnh đốn Đảng Trung ương khóa III tổ chức tháng 4 năm 1953.
Xuất phát từ bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân đã được quy định trong Hiến pháp; từ mối quan hệ biện chứng giữa đội ngũ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân. Để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đòi hỏi phải xây dựng được Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, vì nhân dân phục vụ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn; thực sự tiền phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, của quốc gia, dân tộc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân, lấy tiêu chí sự hài lòng của nhân dân là thước đo kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong toàn quân phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hội đồng quân nhân. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên tiền phong, gương mẫu, có phương pháp, tác phong công tác khoa học; yêu mến, gắn bó với đơn vị, gần gũi với bộ đội, luôn đề cao tự phê bình và phê bình. Tích cực, chủ động, sáng tạo không ngừng nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng tốt mối quan hệ đoàn kết trong đơn vị, đoàn kết quân dân, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Ngày 13/4
“…Pháo binh ta có truyền thống oanh liệt, chân đồng vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”.
Đây là nội dung trong thư khen ngợi bộ đội Pháo binh mà Bác Hồ gửi ngày 13 tháng 4 năm 1967 vì đã lập được thành tích vẻ vang bắn trúng nhiều tàu chiến, bắn chìm nhiều tàu biệt kích của Mỹ - Ngụy và đánh trả pháo binh địch ở Cồn Tiên - Dốc Miếu. Trong thư khen, Người còn cǎn dặn: "Phải ra sức học tập và thi đua với pháo binh quân giải phóng miền Nam tài giỏi, anh hùng".
Binh chủng Pháo binh là binh chủng chiến đấu, binh chủng kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trưởng thành trong chiến đấu và gắn liền với những chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, không ngừng lớn mạnh, trưởng thành trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; truyền thống của Bộ đội Pháo binh gắn liền với truyền thống và sự trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Pháo binh luôn khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm sắt đá, vượt mọi khó khăn gian khổ, tích cực huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, đoàn kết tốt, khai thác, làm chủ các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, nắm chắc kỹ, chiến thuật, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Phát huy truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội, truyền thống vẻ vang của binh chủng, mỗi cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Pháo binh không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, học tập, rèn luyện nâng cao trình độ, năng lực làm chủ tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, đoàn kết thống nhất, xứng đáng với truyền thống “Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng” và danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.
Ngày 14/4
“…Đi bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri”.
Trong buổi thăm và nói chuyện với Đại hội đại biểu nhân dân Thủ đô ngày 14 tháng 4 năm 1964, nhân cuộc bầu cử Quốc hội khóa III, Bác cho biết, bản thân Người đã làm đại biểu Quốc hội gần 20 năm, nhưng vì nhiệm vụ và yêu cầu của cách mạng nên vẫn chưa thể thảnh thơi vui thú thanh nhàn được.
Bác hứa: “Cố gắng phấn đấu và phấn đấu mạnh, phấn đấu cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; phấn đấu ủng hộ đồng bào miền Nam, phấn đấu cho sự nghiệp hòa bình, thống nhất nước nhà, phấn đấu cho:
Nam Bắc sum họp một nhà
Cho người thấy mặt thì ta vui lòng”.
Và Bác căn dặn: “…Đi bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri”
Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân,… Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”. Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân (gọi chung là đại biểu dân cử) là dịp để người dân thể hiện quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu, trực tiếp lựa chọn những người có đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân bầu vào cơ quan quyền lực nhà nước các cấp, thiết thực góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
Mỗi cử tri khi tham gia bầu cử không những là niềm vinh dự được thực hiện quyền dân chủ, mà còn là nghĩa vụ công dân, thể hiện trách nhiệm chính trị của mình đối với vận mệnh đất nước, với bao thế hệ đã chiến đấu, hy sinh để giành lại quyền thiêng liêng cho dân tộc là độc lập, tự do. Lá phiếu bầu cử biểu hiện sâu sắc lòng tin của dân với Đảng, với chế độ. Mỗi lá phiếu của cử tri đều mang theo quyền lợi và trách nhiệm của người công dân góp phần xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Thực hiện lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn nhận thức sâu sắc niềm vinh dự, tự hào khi được thực hiện quyền lợi, trách nhiệm của người công dân, đã nghiên cứu và lựa chọn cho mình những đại biểu ưu tú, tiêu biểu về đức - tài để bầu vào đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gánh vác trọng trách lớn lao mà nhân dân tin tưởng trao gửi.
Ngày 15/4
“…Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ…”.
Đây là lời Bác viết Trên Báo Sự thật số 109, ra ngày 15 tháng 4 năm 1949 trong bài “Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng” của tác giả L.T (bút danh của Người). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách để làm sao kẻ địch không thực hiện được thủ đoạn phản tuyên truyền; đó là, “không có gì hơn là tránh các khuyết điểm, sửa chữa khuyết điểm”, còn nếu khi đã phạm khuyết điểm, thì dù “mình muốn bưng bít, người ta cũng biết”. Người còn khẳng định: “Một đoàn thể hoặc chính quyền mà che giấu khuyết điểm của cán bộ mình là một đoàn thể hoặc chính quyền “yếu ớt”, “thoái bộ”. Đoàn thể và chính quyền có can đảm vạch rõ khuyết điểm của cán bộ mình, có phương pháp sửa chữa cho cán bộ, thì “uy tín chẳng những không giảm bớt, mà lại thêm cao. Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ”. Người nhấn mạnh: “Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”. Bác Hồ chủ trương tất cả cán bộ, từ cấp trên đến cấp dưới, phải “thi đua sửa chữa khuyết điểm và phát triển ưu điểm”.
Thực hiện những chỉ huấn của Người, trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác tự chỉnh đốn, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm; đề cao tự phê bình và phê bình, xác định là nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng để khắc phục những khuyết điểm đã được chỉ ra sau kiểm điểm tự phê bình, phê bình. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng.
Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã triển khai quyết liệt việc tự phê bình và phê bình; kiên quyết đấu tranh với tham nhũng, lãng phí, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tạo không khí phấn khởi trong toàn xã hội, tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.
Thực hiện lời Bác dạy, các cấp ủy, tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, coi đây là vũ khí sắc bén ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên, là cách tốt nhất để không ngừng củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất. Tự phê bình và phê bình phải được thực hiện nghiêm khắc, ráo riết, triệt để, không nể nang, không “dĩ hòa vi quý”; căn cứ vào sự việc có thật để nhận xét, phân tích, đánh giá, chỉ rõ cả ưu điểm, khuyết điểm, có lý, có tình, để khuyến khích phần thiện trong mỗi con người nảy nở, thức tỉnh, nâng đỡ người có sai lầm khuyết điểm tiếp thu phê bình, sửa chữa lỗi lầm, khuyết điểm.
Tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc trong tự phê bình và phê bình là tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau; cấp trên tự giác, gương mẫu tự phê bình trước để cấp dưới noi theo, phê bình từ trên xuống, từ trong cấp ủy ra ngoài quần chúng, ai cũng thực hiện tự phê bình và phê bình, coi đây là việc làm thường xuyên, hằng ngày.
Ngày 16/4
“Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được”.
Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ III năm 1962. Trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi báo chí và đội ngũ người làm báo là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân.
Người cho rằng, hoạt động báo chí thực chất là hoạt động chính trị, báo chí là vũ khí đấu tranh cách mạng, nên báo chí cách mạng trước tiên phải mang tính chiến đấu, tính định hướng và tính quần chúng. Bác đặc biệt lưu ý với những người làm báo phải có bản lĩnh và hiểu biết sâu sắc về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, phải giữ đúng tôn chỉ mục đích của báo chí cách mạng, tiên phong trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng-văn hóa, làm sáng tỏ mục tiêu của cách mạng Việt Nam, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ và thiện cảm của bạn bè quốc tế, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Báo chí quân đội là một bộ phận quan trọng của báo chí cách mạng Việt Nam; kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam, luôn bám sát, tôn chỉ mục đích, là lực lượng nòng cốt, tin cậy trong việc thông tin, tuyên truyền kịp thời về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, đối ngoại; luôn xung kích đi đầu trong việc tuyên truyền, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng về công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước... tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và đáp ứng tốt nhu cầu hưởng thụ thông tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.
Tư tưởng “chính trị là gốc, chính trị trọng hơn quân sự” của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đòi hỏi phải không ngừng xây dựng quân đội, đơn vị vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; phải có tổ chức mạnh, chủ trương đúng, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Ngày 17/4
“Anh hùng là những người thật cần, kiệm, liêm, chính, hết lòng hết sức phục vụ kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, của giai cấp”.
Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Ai là Anh hùng?”, bút danh C.B, đăng trên Báo Nhân Dân số 54, ngày 17-4-1952. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta liên tiếp giành được nhiều thắng lợi trên chiến trường, xuất hiện nhiều tấm gương anh hùng, dũng cảm trong chiến đấu, tiêu biểu trong sản xuất. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng trước tiên phải là người có đạo đức, cần, kiệm, liêm, chính; có những phẩm chất cao đẹp của đạo đức cách mạng: Cần cù, siêng năng, tiết kiệm, trong sạch...; đồng thời phải hết lòng, hết sức phục vụ kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, là đầy tớ của nhân dân. Đó là những người đặt lợi ích cách mạng cao hơn hết; có tinh thần trách nhiệm và tính tích cực hơn hết; lòng son dạ sắt, suốt đời đấu tranh vì lợi ích của cách mạng, của dân tộc, không bao giờ nghĩ đến lợi ích riêng cho mình.
Để động viên, khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua hăng hái sản xuất, chiến đấu, Đảng và Nhà nước đã tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ nhất, từ ngày 1 đến 6-5-1952, tại Chiến khu Việt Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự, chỉ đạo và phát biểu tại đại hội. Đây là đại hội đánh dấu những thắng lợi của phong trào thi đua diệt giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm. Thành công của đại hội đã cổ vũ, động viên quân và dân cả nước tiến lên giành thắng lợi to lớn trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, tích cực hưởng ứng và thực hiện tốt Phong trào Thi đua yêu nước, Phong trào Thi đua Quyết thắng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn ra sức học tập, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân; có phẩm chất đạo đức, lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có trình độ kỹ chiến thuật tốt, làm chủ các loại vũ khí, trang bị; có ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh, đoàn kết gắn bó mật thiết với nhân dân, có tinh thần quốc tế trong sáng. Bất luận trong hoàn cảnh nào, khó khăn đến đâu, cán bộ, chiến sĩ quân đội cũng luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc, nhân dân; là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, xứng đáng với danh xưng Bộ đội Cụ Hồ.
Ngày 18/4
“... Nhân dân nước nào cũng yêu chuộng hòa bình, cũng chán ghét chiến tranh, cũng muốn sống tự do độc lập”.
Đây là lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài viết chúc mừng Hội nghị Á-Phi (các nước châu Á và châu Phi), được khai mạc vào ngày 18 tháng 4 năm 1955, tại Băng-đung (In-đô-nê-xi-a).
Tham dự hội nghị có đại biểu của 29 quốc gia, đại diện cho 1.440 triệu nhân dân châu Á và châu Phi (trong đó có đoàn đại biểu Việt Nam). Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Chúc mừng Hội nghị Á - Phi”. Người ca ngợi cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Á-Phi vì độc lập, tự do, hòa bình, dân chủ và bày tỏ sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam đối với cuộc đấu tranh của nhân dân các nước châu Á và châu Phi.
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống lại các thế lực ngoại xâm để giành và bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trải qua những cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, chịu đựng biết bao mất mát, hy sinh, hơn ai hết, dân tộc ta nhận rõ giá trị của hòa bình, độc lập, tự do. Bởi vậy, yêu chuộng hòa bình là một trong những truyền thống nổi bật, là nét đẹp văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.
Kế tục truyền thống yêu chuộng hòa bình, giữ vững ý chí độc lập, tự do; trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển đã thực hiện thành công chủ trương “Giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, mà thường xuyên trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, toàn quân quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển và quan điểm: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; trong đó biện pháp chủ yếu là thông qua đàm phán, thương lượng, nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan, vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và vì hòa bình, ổn định ở khu vực và quốc tế. Không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, phát huy sức mạnh tổng hợp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Ngày 19/4
“Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”.
Đó là đoạn trích trong Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Đại hội các dan tộc thiểu số miền Nam tại Plâyku, thể hiện quan điểm, tư tưởng của Bác đối với
Ngày 19-4-1946, Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam khai mạc tại Pleiku (Gia Lai). Do ở xa, không có điều kiện đến dự, Bác đã gửi thư động viên và chúc mừng đại hội. Bức thư được viết ngắn gọn, súc tích, khoảng 300 từ, hàm chứa trong đó những chủ trương, đường lối, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước, nhưng cũng hết sức gần gũi, thân thiết, chân thành.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền Nam đã đứng lên đoàn kết kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, thiếu thốn và hy sinh, nhưng tinh thần chiến đấu quả cảm, anh dũng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở mọi vùng miền của Tổ quốc đã góp phần quan trọng cùng với quân và dân cả nước làm nên thắng lợi vĩ đại trong các cuộc chiến tranh giải phóng, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quán triệt chủ trương, chính sách đại đoàn kết của Đảng, Nhà nước và lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ quân đội, không phân biệt người Kinh, người dân tộc thiểu số, thành phần xuất thân, nơi sinh sống, luôn nêu cao tình đồng chí, nghĩa đồng đội, đoàn kết với nhau như ruột thịt theo tinh thần “toàn quân một ý chí”.
Thực hiện chức năng đội quân công tác, những năm gần đây, các đơn vị trong toàn quân tích cực làm tốt công tác dân vận với nhiều mô hình, cách làm hiệu quả, tiêu biểu như: “Tết Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết biển đảo”, “Nâng bước em tới trường”, “Chương trình 12 quân dân y kết hợp”… Cán bộ, chiến sĩ toàn quân tích cực làm công tác vận động quần chúng, chung sức xây dựng nông thôn mới; hàng nghìn lượt cán bộ biên phòng tăng cường về cơ sở vùng sâu, vùng khó khăn, căn cứ cách mạng…; góp phần ổn định tình hình tại các địa bàn phức tạp về an ninh trật tự ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ… Bộ đội “4 cùng” với nhân dân, vận động đồng bào các dân tộc chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chung sức, đồng lòng xây dựng quê hương giàu đẹp; đồng thời kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch.
Ngày 20/4
“Lương y như từ mẫu”
Nhân dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm bệnh xá xã Vân Đình, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Khi đến đây, Người đi thăm từ phòng khám bệnh, phòng điều trị đến vườn trồng cây thuốc, nhà bếp, khu vệ sinh… Bác ân cần thăm hỏi các bệnh nhân, khen cán bộ, nhân viên đã giữ gìn bệnh xá sạch sẽ và căn dặn mọi người: “Trong công tác phục vụ cần coi trọng cả hai mặt vật chất và tinh thần. Có thuốc hay, thức ăn ngon, còn cần phải có thái độ phục vụ tốt, coi người bệnh như ruột thịt. Lương y phải như từ mẫu”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy thuốc (lương y) phải là người có lòng nhân ái, thương yêu người bệnh như mẹ hiền (từ mẫu) thương yêu các con của mình. “Lương y phải như từ mẫu” là y đức, đặt nền tảng chính là sự “Tôn trọng sinh mạng con người”. Vì vậy, đã là người thầy thuốc thì phải coi trọng đức - nhân, tận tình chăm sóc người bệnh, vì quyền lợi, sức khỏe của người bệnh, không phân biệt đối xử, luôn công bằng và trung thực.
Thực hiện lời dạy của Người, ngành y tế nói chung, quân y trong quân đội nói riêng qua các thời kỳ cách mạng, luôn trau dồi y đức, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để chăm sóc bệnh nhân. Vì thế, trong sự khó khăn, thiếu thốn về thuốc men, thiết bị y tế trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các y, bác sĩ quân đội vẫn ngày đêm tận tụy cứu chữa, chăm sóc người bệnh, chăm sóc thương bệnh binh, góp phần quan trọng vào thắng lợi của 2 cuộc kháng chiến.
Lời dạy của Bác về y đức vẫn còn nguyên giá trị và trở thành phương châm, tôn chỉ mục đích nghề nghiệp cho những người làm công tác y tế, để hướng tới mục tiêu thay đổi nhận thức, thái độ, phong cách phục vụ người bệnh, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử, củng cố niềm tin và sự hài lòng của người bệnh, xây dựng hình ảnh đẹp của người cán bộ y tế Việt Nam theo đúng phương châm: “Bệnh nhân đến đón tiếp niềm nở, bệnh nhân ở chăm sóc tận tình, bệnh nhân về dặn dò chu đáo”.
Ngày 21/4
“Biết đồng sức, biết đồng lòng, việc gì khó, cũng làm xong”
Đoàn kết là yếu tổ hạt nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài thơ “Hòn đá” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Người sáng tác trong thời kỳ cách mạng khó khăn, gian khổ bởi các thế lực thực dân, phong kiến cấu kết với nhau hòng ngăn chặn làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Người đã dùng hòn đá làm nên một hình tượng văn học rất gần gũi, giản dị khiến mọi người, từ già đến trẻ ai cũng hiểu “Hòn đá” ấy là những thế lực nào; bọn chúng dù có xảo quyệt, ngoan cố và tàn bạo đến đâu thì với sự đoàn kết, nhất trí, triệu người như một, đồng lòng hiệp lực nhất định cuối cùng nhân dân ta cũng sẽ giành được thắng lợi.
Đoàn kết luôn là yếu tố hạt nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh; vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn chăm lo xây dựng sự đoàn kết thống nhất của toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn quân và đoàn kết với nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Thực tế lịch sử đã chứng minh, nhờ đoàn kết, chung sức, chung lòng, nhân dân Việt Nam đã luôn chiến thắng trước mọi kẻ thù xâm lược, dù đó là kẻ địch lớn mạnh hơn ta gấp nhiều lần.
Do đó, trong bài thơ “Hòn đá”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định hòn đá dù to và nặng thế nào nhưng nếu nhiều người đoàn kết lại sẽ nhấc được nó một cách dễ dàng. Ngược lại, nếu không đoàn kết, chỉ thực hiện một cách đơn lẻ thì sẽ không bao giờ thực hiện được. Suy rộng ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nói rằng, nếu chúng ta biết đoàn kết thì kẻ thù lớn như hòn đá nặng kia, sớm muộn cũng sẽ bị tiêu diệt. Đoàn kết chiến thắng giặc ngoại xâm, đồng thời đoàn kết cũng là cội nguồn thắng lợi của mọi việc.
Đoàn kết thống nhất là một vấn đề thuộc về truyền thống, bản chất và nguyên tắc xây dựng của Quân đội ta. Vì vậy, việc quán triệt và vận dụng những quan điểm về đoàn kết, thống nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải là một nhiệm vụ thường xuyên, là nền tảng quan trọng làm nên bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội, là lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng; là nguồn cội tạo nên sức mạnh để Quân đội ta “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Thực tế đã chỉ rõ, thành công trong xây dựng và thắng lợi trong chiến đấu là bắt nguồn từ sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức, giữa lãnh đạo và quần chúng, giữa nhân dân và bộ đội, tiền tuyến và hậu phương, cán bộ và chiến sĩ. Quân đội ta là một quân đội cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta là những người cùng lý tưởng, bình đẳng về chính trị, thống nhất về mục tiêu và nhiệm vụ chiến đấu. Mối quan hệ trên dưới, quan hệ cán bộ và chiến sĩ trong Quân đội ta được xây dựng trên cơ sở tình cảm cách mạng, tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí giữa những người bạn chiến đấu chung một lý tưởng.
Vì vậy, trong quan hệ hằng ngày đối với đồng chí, đồng đội thì phải thực sự thương yêu, lấy tập thể làm gia đình, lấy đồng chí, đồng đội làm anh em, đơn vị là nhà; cán bộ, chiến sĩ đoàn kết, đồng cam cộng khổ, tin tưởng lẫn nhau, quan tâm giúp đỡ để cùng nhau tiến bộ, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Kiên quyết đấu tranh với bệnh thờ ơ, vô cảm, quân phiệt… làm ảnh hưởng đến truyền thống đoàn kết tốt đẹp trong cán bộ, chiến sĩ, ảnh hưởng đến thanh danh, uy tín của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.
Ngày 22/4
“Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo, thì nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi”.
Đó là lời trích trong Báo cáo tình hình và nhiệm vụ tại Hội nghị lần thứ III của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, tháng 4 năm 1952 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định giai cấp công nhân là giai cấp tiến bộ nhất, cách mạng nhất, là hạt nhân của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức; bởi họ là giai cấp kiên quyết, triệt để, có tổ chức, có kỷ luật, đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ. Do đó, khi phân tích đặc điểm của các giai cấp trong xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chỉ có giai cấp công nhân mới gánh vác được sứ mệnh lãnh đạo toàn dân đánh đổ chế độ tư bản và đế quốc để xây dựng một xã hội mới. Để hoàn thành được sứ mệnh vẻ vang đó, giai cấp công nhân phải có chính Đảng cách mạng với chủ nghĩa Mác-Lênin làm nòng cốt.
Giai cấp nông dân Việt Nam là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là đồng minh chắc chắn nhất của giai cấp công nhân và là đội quân chủ lực của cách mạng. Tuy vậy, họ không thể là lực lượng lãnh đạo cách mạng vì họ không gắn liền với một phương thức sản xuất mới và không có hệ tư tưởng độc lập, họ cũng không có khả năng tự xây dựng một chế độ xã hội mới. Đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng giai cấp và các tầng lớp trong xã hội Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, phát triển những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và thành công trong việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam - một nước thuộc địa, nửa phong kiến với việc bổ sung phong trào yêu nước cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân. Người đã nhận rõ sức mạnh to lớn từ phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, mà lực lượng đông đảo, nòng cốt là giai cấp nông dân.
Trong tình hình mới, Đảng ta khẳng định rõ: Đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân từ nhân dân mà ra, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Tuy thành phần xuất thân, thành phần giai cấp của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội đa dạng, song cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tốt công tác giáo dục, xây dựng bản chất giai cấp công nhân, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị, thực hiện toàn quân một ý chí; xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày càng vững mạnh.
Ngày 23/4
“Chính sách của chúng ta vốn là chính sách thực hiện hòa bình và ủng hộ hòa bình..."
Chính sách của chúng ta vốn là chính sách thực hiện hòa bình và ủng hộ hòa bình. Song hòa bình ắt phải ra sức tranh lấy, phải dùng lực lượng tranh lấy, phải do kháng chiến thắng lợi mà tranh lấy. Quyết không nên ảo tưởng không ngồi chờ nó đến.” Đây là lời trích trong Báo cáo tình hình và nhiệm vụ tại Hội nghị lần thứ III của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II tháng 4 năm 1952 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày.
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và luôn tôn trọng mối quan hệ với các dân tộc anh em, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đại diện tiêu biểu cho lẽ sống đó. Khát vọng hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện qua mong muốn giải quyết xung đột giữa các dân tộc bằng con đường đàm phán hòa bình, việc tiến hành chiến tranh chỉ là giải pháp bắt buộc cuối cùng khi hoàn toàn không còn khả năng đàm phán. Không chỉ vậy, ngay cả khi chiến tranh đã bùng nổ, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục kiếm tìm giải pháp thương lượng hòa bình với điều kiện tiên quyết là kẻ thù phải thực sự tôn trọng nền độc lập của Việt Nam. Tư tưởng hòa hiếu, khát vọng hòa bình của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ khi kẻ thù sa lầy và muốn xuống thang chiến tranh thì sẵn sàng đàm phán để kẻ thù rút lui. Hồ Chí Minh cho rằng, đánh giặc không phải là tiêu diệt hết lực lượng của đội quân xâm lược, mà chủ yếu là đánh bại ý chí xâm lược của chúng. Thiết tha yêu chuộng hòa bình, cố gắng giải quyết mọi xung đột bằng con đường đàm phán hòa bình, kể cả phải chấp nhận một sự nhân nhượng có nguyên tắc, nhưng cũng kiên quyết chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược với ý chí và quyết tâm dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập; chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ để bảo vệ hòa bình một cách thực sự.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng, Nhà nước tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển". Song, chúng ta cũng luôn nêu cao cảnh giác, không ngừng xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Muốn vậy, phải phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của cả nước. Đó là sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, của thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc phát triển ở trình độ cao; khi đất nước xảy ra chiến tranh thì “cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”, thực hiện chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; trong đó quân đội luôn là lực lượng nòng cốt.
Cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn gương mẫu đi đầu trong học tập và làm theo lời Bác dạy, được thể hiện sâu đậm ở bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; luôn nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, sớm phát hiện, ngăn chặn, vô hiệu hóa mọi âm mưu, hoạt động chống phá chế độ chính trị, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, giữ vững hòa bình, ổn định, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.
Ngày 24/4
“Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng”
Đây là lời dạy được trích trong Điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng Hội Nhà báo Á-Phi, năm 1965. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người làm báo, trước hết là chiến sĩ cách mạng-người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác quan trọng mà Đảng, Nhà nước giao cho. Hơn nữa, người làm báo còn nắm trong tay công cụ, phương tiện thông tin đại chúng cực kỳ quan trọng đối với đời sống xã hội.
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tự trau dồi đạo đức, phong cách của người chiến sĩ trên mặt trận báo chí và chính Người đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của báo chí cách mạng nước ta. Người căn dặn những người làm báo Việt Nam “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang viết là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”.
Là một bộ phận của báo chí cách mạng Việt Nam, là thành tố quan trọng trong hoạt động CTĐ, CTCT, báo chí quân đội có vai trò quan trọng đối với việc giữ vững phương hướng chính trị của Đảng, bảo đảm cho đường lối quân sự của Đảng được quán triệt sâu sắc, được tuyên truyền sâu rộng và thực hiện sáng tạo, hiệu quả. Báo chí quân đội còn có vai trò quan trọng cung cấp thông tin định hướng dư luận, tuyên truyền giáo dục nhằm không ngừng nâng cao giác ngộ chính trị, củng cố niềm tin, tăng cường sự nhất trí về chính trị tư tưởng, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ thành người quân nhân cách mạng, góp phần xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh về chính trị, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Hiện nay, đội ngũ phóng viên báo chí quân đội đã có chuyển biến trên nhiều mặt, được đào tạo cơ bản với hơn 85% trình độ đại học và trên đại học, được rèn luyện trưởng thành trong thực tế, đại bộ phận báo chí trong quân đội đều khẳng định được vị trí và phát huy tốt vai trò của mình, uy tín tốt, thực sự là diễn đàn tin cậy của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Cùng với đội ngũ phóng viên chuyên nghiệp, lực lượng cộng tác viên cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác thông tin tuyên truyền để kịp thời phản ánh tình hình của các cơ quan, đơn vị; đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch… của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến với bộ đội.
Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới, mỗi phóng viên, mỗi cộng tác viên của các cơ quan báo chí quân đội phải luôn trau dồi bản lĩnh chính trị vững vàng, có chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp trong sáng; tăng cường kỷ luật, kỷ cương; phải luôn coi mình là một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh chống lại các thế lực phản động, thù địch, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; chủ động thông tin bác bỏ những nội dung bôi nhọ, bịa đặt, vu khống, gây chia rẽ nội bộ, định hướng dư luận xã hội, hướng quân và dân vào những giá trị chân, thiện, mỹ, tạo sự đồng thuận trong xã hội.
Ngày 25/4
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công ”
Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói chuyện tại Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II, năm 1961. Người gửi đến quốc dân đồng bào thông điệp về sức mạnh của tinh thần đoàn kết, đoàn kết rộng rãi, đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết thực sự.
Theo Bác, để giải phóng một dân tộc cũng như để xây dựng một chế độ mới thì phải huy động sức mạnh toàn dân mới thắng lợi, hoàn thành được. Đoàn kết toàn dân vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng và là mục tiêu đấu tranh trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.
Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc mang bản sắc riêng nhưng đều nằm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Vì vậy Người kêu gọi đồng bào các dân tộc không phân biệt Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,… phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng xây dựng Tổ quốc chung, xây dựng xã hội XHCN, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc. Với các tôn giáo, Người nhắc nhở phải luôn gắn liền lợi ích tôn giáo với lợi ích chung của dân tộc. Phải đoàn kết giữa đời và đạo, giữa yêu nước và phụng đạo. Dù là lương hay giáo, đồng bào cũng phải yêu thương đùm bọc nhau, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận, ấm no, xây dựng Tổ quốc. Người nhắn nhủ: Đoàn kết thì thành công và đại đoàn kết thì sẽ đại thành công.
Thực hiện lời Bác dạy về sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đề cao thực hành và giữ gìn sự đoàn kết, gắn bó và đã trở thành lời thề danh dự của quân nhân. Tinh thần đoàn kết trong quân đội, nhất là đoàn kết trong cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chủ trì ngày càng vững chắc; cán bộ, chiến sĩ thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Toàn quân đoàn kết, thống nhất một lòng trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, phấn đấu thực hiện mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Thực hiện chức năng đội quân công tác và tiếp tục phát huy tốt mối quan hệ đoàn kết quân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn sát cánh cùng nhân dân, kính trọng dân, giúp đỡ dân và bảo vệ dân. Cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn xung kích đi đầu trong giúp dân phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, chung sức xây dựng nông thôn mới… góp phần quan trọng vào việc xây dựng thế trận lòng dân ngày càng vững chắc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước, nhân dân và danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ.
Ngày 26/4
"Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói"
QĐND - Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18, năm 1951: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”.
Mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của Quân đội ta; là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cho đội ngũ cán bộ quân đội yêu cầu phải luôn chăm lo đến đơn vị, đồng cam cộng khổ với bộ đội thì bộ đội nhất định tin và nghe theo: “Đối với binh sĩ, thì lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh”. Và Người khẳng định: “Cán bộ có coi đội viên như chân tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”.
Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta, mối quan hệ cán-binh được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng đội, được tôi luyện, thiết lập vững chắc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Trên thực tế, đội ngũ cán bộ các cấp trong quân đội luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, gương mẫu để bộ đội học tập, noi theo; xây dựng tinh thần tự giác trong bộ đội, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”.
Trong giai đoạn hiện nay, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội hằng ngày một cách chu đáo, không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình cảm, sự nêu gương của cán bộ đối với bộ đội. Đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phải hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân với tay” thì cấp dưới sẽ kính trọng, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu, như óc”, như người thân trong gia đình; từ đó, bộ đội sẽ mang hết khả năng để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh một cách tự giác và có hiệu quả cao nhất. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải luôn là hạt nhân đoàn kết; kiên quyết chống biểu hiện xa rời cấp dưới, quan liêu, hách dịch, vô cảm…; phải thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, góp phần giữ gìn và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới.
Ngày 27/4
“...Mỗi chiến sĩ, từ trên đến dưới, các cấp bậc đều phải nghiên cứu, học tập, luôn luôn cầu tiến bộ”
“Muốn trở nên người quân nhân mới, xứng đáng với cái vinh hạnh đứng trong quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thì mỗi chiến sĩ, từ trên đến dưới, các cấp bậc đều phải nghiên cứu, học tập, luôn luôn cầu tiến bộ”. Lời dạy trên được Bác viết trong Thư gửi Quân sự Tập san, năm 1948.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, người chiến sĩ chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Người chiến sĩ quân đội mới phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tri thức về quân sự, trình độ văn hóa và sức khỏe dồi dào, là những con người dám “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Việc học, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải quán triệt quan điểm Người viết trong thư gửi Quân sự Tập san (Tạp chí Quốc phòng toàn dân hiện nay): “Nghiên cứu mà không thực hành là nghiên cứu suông. Thực hành mà không nghiên cứu thì thường hay bị mù quáng. Vậy cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm”. Bác cũng nhấn mạnh về mục đích của học tập: “Học để tiến bộ mãi, càng tiến bộ càng thấy cần phải học”. Người cũng chỉ ra phương pháp học tập: “Học ở nhà trường, học ở thầy, học ở bạn, học trong sách vở và học nhân dân”. Quá trình lao động, làm việc là quá trình tự học tập, tích lũy, bổ sung kinh nghiệm và đúc kết kiến thức từ thực tiễn.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, công tác huấn luyện trong quân đội được đổi mới theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, nhiệm vụ, địa bàn hoạt động, cũng như yêu cầu tác chiến, trong điều kiện sử dụng vũ khí công nghệ cao; chú trọng diễn tập hiệp đồng quân binh chủng, diễn tập cơ động và diễn tập khu vực phòng thủ, đáp ứng yêu cầu tác chiến mới. Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đòi hỏi phải đồng bộ cả con người và vũ khí, trang bị. Trước hết phải nâng cao chất lượng tuyển quân và chất lượng giáo dục, đào tạo, huấn luyện, để mỗi quân nhân, nhất là đội ngũ sĩ quan có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, phẩm chất đạo đức và trình độ kỹ, chiến thuật tốt, có tư duy đổi mới, nhạy bén, sáng tạo; trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khoa học-công nghệ, ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, làm chủ vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại, chịu đựng gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải ra sức học tập chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, vững về bản lĩnh, giỏi về chuyên môn, phải thường xuyên học tập, học suốt đời, kiên quyết đấu tranh với bệnh tự mãn, lười học tập, rèn luyện.
Ngày 28/4
“Trước hết, quân đội nhất định phải có anh hùng. Lúc kháng chiến có anh hùng, sao nay lại không có anh hùng? Khi kháng chiến anh hùng cách khác… Có phải không có chiến tranh thì quân đội không có anh hùng?”.
Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về chuẩn bị Đại hội Liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua năm 1962. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra một số thiếu sót trong việc phong danh hiệu Anh hùng, Chiến sĩ thi đua. Người khẳng định, một yêu cầu tất yếu là trong quân đội phải có anh hùng, anh hùng không chỉ trong thời chiến, mà trong thời bình cũng phải có, đó có thể là những người tham gia xây dựng quân đội vững mạnh, là những chiến sĩ không ngừng học tập, huấn luyện, sản xuất... Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ có lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, mà dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta còn làm tròn chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần tiếp tục rèn luyện, phấn đấu, xây dựng quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, kỷ luật, kỷ cương; tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, Tổ quốc và nhân dân; nâng cao trình độ khoa học - công nghệ, làm chủ các loại vũ khí, khí tài hiện đại, trình độ chỉ huy, tác chiến, nghệ thuật quân sự, đáp ứng yêu cầu chiến đấu và chiến thắng trong điều kiện tác chiến địch có sử dụng vũ khí công nghệ cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Toàn quân tiếp tục đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng, xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến, phấn đấu học tập, rèn luyện, công tác, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, giành thành tích cao nhất để ngày càng có nhiều gương anh hùng, điển hình tiên tiến trên mọi lĩnh vực công tác, xứng đáng với tình cảm và mong muốn của Bác đối với cán bộ, chiến sĩ toàn quân.
Ngày 29/4
"Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ, làm mọi việc phải đi sâu, đi sát, phải tránh chủ quan"
Nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ. Làm mọi việc phải đi sâu, đi sát, phải tránh chủ quan, phải có kế hoạch chu đáo, phải có quyết tâm bền bỉ”. Trích trong bài nói chuyện của Bác tại Hội nghị cán bộ ngành Công an năm 1963. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục, rèn luyện Công an nhân dân thành một lực lượng trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt. Người luôn nhắc nhở rằng, người chiến sĩ công an sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân chiến đấu là người lính có lý tưởng cao cả, kiên quyết hăng hái làm tròn nhiệm vụ. Thực tế lịch sử đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, lực lượng công an luôn dũng cảm trong chiến đấu, giữ vững bản chất cách mạng, ý chí chiến đấu, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong cuộc chiến giữ gìn an ninh nội bộ và xây dựng thế trận an ninh nhân dân.
Nội dung, ý nghĩa trong lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dành riêng cho lực lượng công an, mà còn dành cho các cấp, các ngành, các lực lượng; trong đó có Quân đội nhân dân. Sức mạnh chiến đấu của Quân đội phải được bắt đầu từ sức mạnh đoàn kết nội bộ. Nội bộ thống nhất, chặt chẽ mới có thể đưa mọi việc được triển khai đồng bộ; phải nghiên cứu kỹ mọi việc, lập kế hoạch sâu sát, tỉ mỉ trước khi thi hành để đảm bảo chắc chắn thành công. Nghiên cứu công việc kỹ lưỡng chưa đủ, khi thực thi còn phải thận trọng và không được chủ quan mới có thể đi đến đích thắng lợi. Suy rộng ra, đoàn kết nội bộ ở đây cũng có nghĩa là đoàn kết nội bộ Đảng, đoàn kết dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Muốn làm được điều đó mỗi tổ chức, mỗi cá nhân, mà trước tiên là cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp phải tiền phong gương mẫu chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, giữ gìn đoàn kết nội bộ tốt, có tác phong lãnh đạo dân chủ, quần chúng, sâu sát, cụ thể, tới nơi, tới chốn và thực hành nêu gương trước cấp dưới và quần chúng. Kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, chủ nghĩa kinh nghiệm, độc đoán, gia trưởng, xa rời, lãnh cảm với cấp dưới và quần chúng…
Ngày 30/4
"Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Đồng bào, cán bộ và quân đội ta quyết không được vì thắng lợi mà chủ quan khinh địch. Cần phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác và chí khí chiến đấu"
“Đồng bào, cán bộ và quân đội ta quyết không được vì thắng lợi mà chủ quan khinh địch. Cần phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác và chí khí chiến đấu”, đó là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư khen quân và dân miền Bắc bắn rơi 1.000 máy bay Mỹ được Bác viết ngày 30 tháng 4 năm 1966 và đăng trên Báo Nhân dân số 4408, ngày 1 tháng 5 năm 1966.
Đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh Đặc biệt” của đế quốc Mỹ đã bị quân và dân ta đánh bại. Song, đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chúng chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh Cục bộ”, tăng cường quân Mỹ vào miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng sức mạnh không quân và hải quân, hòng buộc phía Việt Nam phải ngồi vào đàm phán theo các điều kiện ép buộc do Mỹ soạn thảo. Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chuyển toàn bộ hoạt động của miền Bắc từ thời bình sang thời chiến, tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh, quyết tâm đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, phát huy vai trò hậu phương lớn với tiền tuyến lớn miền Nam, đánh bại chiến lược “Chiến tranh Cục bộ” và làm tròn nghĩa vụ quốc tế với cách mạng hai nước Lào và Campuchia. Với chiến công bắn hạ 1.000 máy bay Mỹ đã làm thất bại quyết tâm chiến lược của đế quốc Mỹ, không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh của quân và dân miền Bắc, cùng với quân và dân miền Nam quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất nước nhà.
Lời Bác căn dặn được quân và dân miền Bắc khắc ghi và thực hiện nghiêm, trở thành sức mạnh để tiếp tục đánh bại chiến dịch đánh phá bằng không quân của đế quốc Mỹ lần thứ 2, làm nên chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” tháng 12 năm 1972 - đòn đánh quyết định cuối cùng, buộc chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân viễn chinh và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, mở ra thời cơ chiến lược lớn để quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông đất nước về một mối.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn tuyệt đối tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chấp hành nghiêm chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, thành thục kỹ, chiến thuật tác chiến, làm chủ các loại vũ khí, trang bị. Nâng cao cảnh giác cánh mạng, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam để bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, quyết không để bị động, bất ngờ. Kiên quyết đấu tranh với các luận điệu chống phá, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội trong thời bình và những nhận thức giản đơn, coi nhẹ nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng - an ninh, nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ tranh nhân dân.