Về phía ta, tháng 8/1971, Bộ Chính trị đã ra nghị quyết mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên các hướng miền Đông Nam Bộ (hướng chủ yếu), Tây Nguyên và Trị Thiên (hướng phối hợp), nhằm giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua. Cuối tháng 02/1972, Quân uỷ Trung ương đề đạt cho điều chỉnh hướng tiến công chiến lược, lấy Trị-Thiên làm hướng tiến công chủ yếu. Ngày 23/3, Bộ Chính trị thông qua quyết tâm, phê chuẩn kế hoạch tiến công chiến lược năm 1972, trong đó chọn Trị - Thiên là hướng tiến công chủ yếu.
Trị - Thiên là địa bàn chiến lược vô cùng quan trọng, nơi đã từng diễn ra các cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch, nên địch bố trí ở đây lực lượng đông và mạnh gồm: Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 1, 02 Sư đoàn bộ binh, 02 Lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ, 03 Thiết đoàn tăng-thiết giáp, 17 tiểu đoàn pháo binh (120 khẩu pháo từ 105mm đến 175mm). Ngoài ra còn có 04 tiểu đoàn, 94 đại đội, 302 trung đội địa phương quân. Đến đầu năm 1971, địch đã xây dựng căn cứ vững chắc ở các điểm cao từ Động Toàn, Đầu Mầu, Bái Sơn theo Đường 9 đến Dốc Miếu, nam sông Bến Hải hình thành tuyến phòng thủ cứng ở bắc Quảng Trị với chiều sâu khoảng 150km (đến đèo Hải Vân). Về vũ khí hoá học, được trang bị khá đầy đủ các loại như lựu đạn CS, đạn M79-CS, bệ phóng CS kiểu E8, các loại đạn pháo cối chứa chất độc CS và một số phương tiện hoá học khác.
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và kế hoạch của Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu đã điều một lực lượng lớn tham gia chiến dịch gồm: 03 sư đoàn bộ binh (304, 308, 324), 02 trung đoàn bộ binh độc lập và 04 tiểu đoàn bộ binh của Quân khu Trị- Thiên; Đoàn 126 đặc công nước, 03 tiểu đoàn đặc công cơ động của Bộ; 02 trung đoàn tăng-thiết giáp; 07 trung đoàn pháo binh; 03 sư đoàn pháo phòng không, 04 tiểu đoàn tên lửa phòng không; 02 trung đoàn công binh; 07 tiểu đoàn quân khu và 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên. Ngoài ra còn có 03 tiểu đoàn, 05 đại đội bộ đội địa phương tỉnh huyện, 02 trung đoàn công binh công trình, 02 tiểu đoàn độc lập và 1 tiểu đoàn trực thuộc Trung đoàn 271 của Bộ.
Trên cơ sở đánh giá khả năng địch sử dụng vũ khí hoá học và quy mô của chiến dịch, Bộ Tư lệnh mặt trận giao nhiệm vụ cho lực lượng hoá học:
- Tổ chức, chỉ đạo công tác phòng hoá chặt chẽ, toàn diện, bảo đảm cho bộ đội đề phòng được các loại chất độc địch sử dụng với quy mô lớn, nồng độ cao ở hướng tác chiến tập trung, các mục tiêu quan trọng; đồng thời có kế hoạch phối hợp cùng với địa phương hướng dẫn lực lượng bán vũ trang và nhân dân vùng mới giải phóng làm công tác phòng hoá.
- Tích cực, mạnh dạn sử dụng những phân đội hoá học tham gia chiến đấu.
- Tạo màn khói nguỵ trang kết hợp với nghi binh.
- Qua thực tế chiến dịch, nghiên cứu phương hướng xây dựng, huấn luyện, chuẩn bị phòng hoá cho bộ đội và binh chủng, thu thập phương tiện, trang bị hoá học của địch để nghiên cứu.
Để thực hiện công tác bảo đảm phòng hoá chiến dịch, ngay từ tháng 8/1971 Cục Hoá học quán triệt, triển khai nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ đạo tiến hành chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch. Tháng 8/1971, đoàn cán bộ Cục Hoá học do đồng chí Cù Xuân Sắc, Quyền Cục trưởng và phân đội hoá học của Bộ vào cùng với Phòng Hoá học Mặt trận Trị-Thiên (B5) nghiên cứu chuẩn bị chiến trường. Sau khi nghiên cứu thực địa, tháng 11/1971, Đoàn giúp Phòng Hoá học B5 soạn thảo kế hoạch bảo đảm phòng hoá báo cáo Bộ Tư lệnh Mặt trận; đến tháng 12/1971, Cục Hoá học lại cử 6 cán bộ vào cùng Phòng Hoá học B5 chuẩn bị kho hàng, đường cơ động và Đại đội 3/ Tiểu đoàn 901 tăng cường cho Mặt trận. Đến đầu tháng 3/1972 Cục Hoá học tiếp tục tăng cường 23 cán bộ để tổ chức Cơ quan hoá học chiến dịch, đồng thời 4 cán bộ tham mưu hoá học, 01 trung đội phun lửa, 1 đại đội cối 82mm, 01 tiểu đội trinh sát hoá học cũng được tăng cường cho Mặt trận. Do đặc điểm tác chiến chiến dịch quy mô lớn, nên Cơ quan hoá học chiến dịch được tổ chức làm 3 bộ phận: Sở chỉ huy cơ bản, cánh Nam và cánh Bắc. Hệ thống bảo đảm hoá học được tổ chức tới các đơn vị. Trực thuộc Phòng hoá học chiến dịch có 01 cPH(-), 01 cPL nhẹ, 01 cCo82mm; ở cấp sư đoàn có Ban hoá học, các trung đoàn có trợ lý hoá học, nhân viên chuyên môn, một phân đội trinh sát làm nòng cốt.
Đến ngày 28/3/1972, ngoài số lượng trang bị hoá học cấp phát cho đơn vị, Cục Hoá học đã chỉ đạo Kho K61 vận chuyển gần 5 vạn mặt nạ, trên 1.000 bộ khí tài phòng da, 50 vạn ống khói chống độc và mảnh sunfat đồng, trên 2 tấn chất tiêu độc, 04 xe trinh sát, 01 xe hoá nghiệm, 04 xe AĐM-48, 40 thùng khói, 2.400 hộp khói, 5.000 lựu đạn khói và các trang bị khí tài khác dự trữ tại kho tiền phương của mặt trận, kho của các hướng, các mũi. Tại kho Bãi Hà dự trữ 15.000 mặt nạ, 50 bộ phòng da số 2, 1.400 hộp khói, 2.000 lựu đạn khói, được tăng cường 30 dân công hoả tuyến bảo đảm vận chuyển và cấp phát; tại kho Hướng Hoá dự trữ 10.000 mặt nạ, 20 bộ phòng da số 2, trên 1.000 thùng, lực đạn khói.
Cơ quan hoá học, cán bộ hoá học các cấp khẩn trương huấn luyện phòng hoá bổ sung cho bộ đội, dân quân du kích, dân công hoả tuyến, thanh niên xung phong… Đồng thời kiểm tra đánh giá chất lượng các phân đội hoá học của các sư đoàn, đơn vị tham gia chiến dịch; đề ra kế hoạch chấn chỉnh, khắc phục những mặt còn hạn chế. Ngoài huấn luyện trực tiếp, Cơ quan hóa học chiến dịch còn phổ biến kiến thức phòng hoá, phòng cháy bằng hình thức đăng trên 5 số báo “Mặt trận Đường 9”, in hàng vạn tờ bướm tóm tắt những điều cần biết về phòng hoá cho bộ đội và nhân dân.
Lực lượng hoá học chuyên môn triển khai hệ thống đài quan sát (25 đài) kết hợp với các đài quan sát pháo binh kiêm nhiệm quan sát, thông báo, báo động, bảo đảm cho Sở chỉ huy, các trận địa hoả lực, các hướng tiến công trong suốt quá trình từ chuẩn bị đến thực hành chiến dịch.
Nhìn chung, trước khi bước vào chiến dịch, lực lượng hoá học đã tổ chức chuẩn bị và bảo đảm trang bị khí tài hoá học (TBKTHH) cho các đơn vị khá tốt, cấp trung đoàn thấp nhất đạt 80%, cao nhất đạt 100%, cấp sư đoàn cao nhất đạt 90%, thấp nhất đạt 85,25% số trang bị khí tài cần thiết.
Diễn biến công tác bảo đảm phòng hoá chiến dịch chia làm 3 đợt:
Đợt 1 (từ 30/3 đến 9/4), ta phá vỡ tuyến phòng thủ phía ngoài, giải phóng 2 huyện Gio Linh và Cam Lộ
11 giờ ngày 30/3/1972, đúng lúc địch đang tổ chức thay quân, trên các hướng, ta đồng loạt nổ súng mở màn chiến dịch (sớm hơn kế hoạch 4 giờ). Trên hướng Đường số 9-bắc Quảng Trị, 150 pháo lớn và nhiều súng cối, hoả tiễn của ta đồng loạt bắn hơn 15.000 viên đạn xuống toàn bộ căn cứ hoả lực, sở chỉ huy, cứ điểm địch ở nam-bắc Đường số 9 chi viện cho bộ binh tiến công.

Quân Giải phóng tiến vào cứ điểm Đầu Mầu - Quảng Trị trưa ngày 31/3/1972 (Ảnh tư liệu)
Lợi dụng kết quả của pháo binh, các đơn vị từ nhiều hướng tiến công đập tan tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, giải phóng 2 huyện Gio Linh, Cam Lộ, uy hiếp La Vang, Quảng Trị từ phía nam.
Sau khi bị ta phá vỡ tuyến phòng thủ vững chắc vòng ngoài, địch nhanh chóng tăng cường lực lượng để đối phó với ta. Từ ngày 02 đến 09/4/1972, địch tăng cường tối đa hoả lực chi viện và sử dụng ồ ạt chất độc CS1, CS2 ở thể bột, chất cháy để ngăn chặn và tiêu hao sinh lực của ta. Trong 2 ngày (3,4/4), địch 55 lần tập kích chất độc CS vào các khu bắc, nam Đường 9 đoạn từ Cam Lộ đến Đông Hà và các khu vực Cùa, Kim Tân, cầu Đuồi, động Quai Vạc, bắc Đông Hà… hình thành vành đai chất độc CS ngăn chặn ta tiến công. Điển hình e36/f308 bị địch tập kích 18 lần vào đội hình, e48 nhiều lần bị máy bay ném bom cháy, bom chứa chất độc CS; trận địa pháo e88/f308, e38 và nhiều đơn vị đều bị tập kích chất độc. Nhờ được chuẩn bị chu đáo và huấn luyện kỹ nên khi địch tập kích chất độc, bộ đội sử dụng mặt nạ, ống chống khói và các khí tài ứng dụng để hạn chế tác hại của chất độc, bảo toàn lực lượng, liên tục cơ động truy kích hoặc đánh trả nhiều đợt phản kích của địch. Các phân đội hoá học được tăng cường cho eCB249 bảo đảm bến vượt Hiền Lương, Bến Than; cho eCB229 mở đường bảo đảm giao thông, bảo đảm cơ động trên các trục đường chính. Trong quá trình chiến đấu cán bộ hoá học chiến dịch và cán bộ hoá học các đơn vị đã đến từng vị trí, từng đơn vị bị tập kích để nắm tình hình, chỉ đạo khắc phục hậu quả và bổ sung khí tài trang bị cho bộ đội trước khi chuyển sang đợt chiến đấu mới.
Đợt 2 (từ ngày 26/4 đến 02/5), ta tiến công tiêu diệt các cụm cứ điểm Ái Tử, Đông Hà, La Vang, giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị
5 giờ ngày 26/4, đợt tiến công mới của ta bắt đầu. Để giữ cụm cứ điểm Đông Hà, Ái Tử, La Vang, địch đã sử dụng hơn 40 lần chất độc CS vào các vị trí, khu vực địa hình có lợi, các trục đường cơ động vùng giáp gianh Tây Quốc lộ 1 đoạn Thạch Hãn, sông Ô Lâu như Động Tiên, Động Ông Do, Động Chiên Giòng, núi Tan Téo, Xuân Lâm, núi Hồ Lây, Đá Bạc. Thủ đoạn của chúng là sử dụng bom CS nổ trên không làm tung chất độc CS ra xung quanh tạo khu nhiễm độc rộng, truyền lan lớn. Tập kích chất cháy vào các khu vực nghi ta trú quân và ngăn chặn ta cơ động tiến công. Rút kinh nghiệm đợt 1 chiến dịch, công tác phòng hoá được tiến hành có nền nếp và toàn diện. Mặc dù địch liên tục tập kích chất độc với nồng độ cao, song các đơn vị chiến đấu tổ chức cho bộ đội phòng chống hiệu quả. Cơ quan tham mưu hoá học các cấp có mặt kịp thời ở những nơi, những đơn vị bị tập kích đề xuất các biện pháp phòng hoá thích hợp, đồng thời hướng dẫn bộ đội khắc phục hậu quả bảo đảm sức chiến đấu; hướng dẫn các đơn vị vận dụng các biện pháp linh hoạt để phòng chống chất độc của địch như phá huỷ kho vũ khí, phương tiện của địch, tạo thế xen kẽ với địch… Hướng dẫn nhân dân vùng mới giải phóng ở Cam Lộ, Gio Linh, Triệu Phong sử dụng các khí tài ứng dụng để phòng chống như dùng khăn mặt ướt che mũi, miệng, vào hầm che kín cửa, úp mặt vào chậu nước… và cấp phát cho nhân dân một số ống chống khói độc, nên về sau nhân dân biết cách tự đề phòng. Đặc biệt tại đài quan sát pháo binh e164, hai đồng chí Trường và Kỳ đã nhường mặt nạ của mình cho một phụ nữ trở dạ đẻ và bảo đảm an toàn cho hai mẹ con.
Trước sức tiến công mãnh liệt của ta, 18 giờ ngày 28/4, ta đã hoàn toàn làm chủ Đông Hà-Lai Phước; quân địch ở Ái Tử hốt hoảng bỏ chạy. Ta chiếm Ái Tử lúc 2 giờ sáng ngày 01/5. Đông Hà, Ái Tử bị mất, quận lỵ Hải Lăng bị uy hiếp, cụm quân địch ở La Vang-Quảng Trị vội vã rút quân. Đến 18 giờ ngày 02/5, ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.
Đợt 3 (từ ngày 20 đến 26 tháng 6) tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch, phá vỡ thế phòng ngự của chúng, làm chủ đến giáp sông Hương không cho địch co cụm ở tuyến sông Bồ, tạo thế phát triển chiến dịch
19 giờ 20 ngày 20/6, ta nổ súng tiến công đợt 3. Được sự chi viện của pháo binh, các đơn vị trên hướng chủ yếu tiến công làm chủ các điểm cao 102, 156, Đá Bạc, núi Cánh Dơi và một số mỏm đồi khu vực núi Cái Mương. Do tốc độ tiến công phát triển chậm, hiệp đồng thời gian không chặt chẽ, thiếu sự phối hợp chung giữa các đơn vị, do đó từ ngày 22/4, quân địch ở Phò Trạch phản kích chiếm lại điểm cao 35, làng Xuân Lộc ở nam sông Mỹ Chánh.
Để chủ động đối phó với việc địch tăng cường sử dụng chất độc, chất cháy, các đơn vị tổ chức rút kinh nghiệm công tác phòng hoá đợt 1, đợt 2 chỉ ra những ưu, khuyết điểm và biện pháp khắc phục; dự kiến âm mưu, thủ đoạn sử dụng chất độc của địch để các đơn vị chủ động đối phó; thông báo kinh nghiệm phòng chống tốt của một số đơn vị để bộ đội học tập; điển hình ngày 09/5, trận địa cao xạ c12/d8/e230 tại Đầu Mầu bị tập kích chất độc CS, bộ đội đã khẩn trương đeo mặt nạ, chiến đấu liên tục 3 giờ liền. Thực hiện kế hoạch chung của chiến dịch, Cơ quan hoá học chiến dịch tiến hành điều chỉnh lực lượng: Tăng cường cho các Sư đoàn 304, 324 mỗi sư đoàn 01 trung đội súng phun lửa và 01 trung đội cối 82mm; các Trung đoàn 18, 229, 249 được tăng cường 01 tổ hoá học và khẩn trương điều động lực lượng cấp phát bổ sung TBKTHH cho các đơn vị. Các phân đội trinh sát trên các hướng, các mũi tiến hành trinh sát và trực tiếp hướng dẫn bộ đội từ khắc phục hậu quả bằng các TBKT chế sẵn và ứng dụng. Ngày 04/5/1972, phân đội hoá học chiến dịch đã dùng xe tiêu độc 12U tiêu độc đoạn đường từ Thạch Bàn đến Thác Cóc dài 700 mét bảo đảm thông đường vận chuyển và cơ động của bộ đội; Trung đội súng phun lửa cũng đã cùng với e66/f304 bám đánh địch tại Nam sông Mỹ Chánh.
Qua 6 ngày tiến công đợt 3 chiến dịch, các hướng đều không thực hiện được kế hoạch theo quyết tâm đề ra. Các đơn vị bị thương vong nhiều, sức chiến đấu giảm sút rõ rệt. Trong thời gian này, địch tiếp tục tăng cường 1 lữ đoàn dù và Trung đoàn 51 là lực lượng tổng dự bị chiến lược ra chuẩn bị phản công quy mô lớn hòng tái chiếm Quảng Trị, đồng thời Mỹ dùng máy bay B52 và pháo hạm đánh phá rất quyết liệt vào hậu phương chiến dịch của ta. Trước tình hình đó, đêm 27/6, Bộ Tư lệnh chủ trương kết thúc chiến dịch tiến công.
Trong chiến dịch tiến công Trị-Thiên, mặc dù địch đã sử dụng không quân, pháo binh đánh phá và rải chất độc hoá học cường độ lớn, thời gian kéo dài, song chúng đã không ngăn cản được sức mạnh tiến công của ta. Phương châm phòng hoá chiến dịch lấy quần chúng tự phòng là chính, lực lượng hoá học làm nòng cốt đã được quán triệt và thực hiện triệt để trong tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch. Phương thức tại chỗ kết hợp với cơ động, hiện đại kết hợp với thô sơ, ứng dụng được thực hiện toàn diện đã tạo ra sức mạnh tổng hợp trong việc bảo đảm phòng hoá, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch. Việc tổ chức, xây dựng, điều hành của cơ quan hoá học phù hợp với quy mô và diễn biến của chiến dịch; khả năng của phân đội hoá học được phát huy bảo đảm duy trì lực lượng chiến đấu thường xuyên, liên tục. Trong điều kiện bảo đảm phòng hoá chiến dịch quy mô lớn, nhiều đối tượng khác nhau, lực lượng hoá học đã tập trung bảo đảm cho hướng tiến công chủ yếu, lực lượng quan trọng của chiến dịch, đồng thời chủ động dự trữ một lượng khí tài trang bị hoá học đáp ứng được các yêu cầu của chiến dịch. Khi tình huống hoá học xảy ra đã nhanh chóng chủ động đề xuất các biện pháp, huy động mọi lực lượng, mọi phương tiện để khắc phục hậu quả.
Chiến dịch tiến công Trị-Thiên giành thắng lợi lớn, lần đầu tiên giải phóng hoàn toàn một tỉnh, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch; tiêu diệt nhiều trung đoàn, đánh quỵ 1 sư đoàn quân ngụy; cùng với các hướng tiến công khác của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 tạo ra cục diện mới trên chiến trường có lợi cho ta, góp phần buộc Mỹ phải ký kết hiệp định Pa-ri, đơn phương rút quân về nước./.
Để lại bình luận
Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *