Trang thông tin điện tử Binh chủng Hóa học

collapse
...
Trang chủ / Tin bài tổng hợp / Những giọt mồ hôi lính hoá

Những giọt mồ hôi lính hoá

06/04/2023  Phạm Quốc Trung 529 lượt xem
Trong những năm làm chỉ huy Trung đoàn (nay là Lữ đoàn) Phòng hóa 86, có rất nhiều kỷ niệm sâu sắc đối với tôi. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trung tâm là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, việc xây dựng đơn vị chính quy, khang trang, làm cho bộ đội yêu mến, gắn bó với đơn vị luôn là suy nghĩ thường trực trong tôi. Lúc ấy, doanh trại Trung đoàn chưa được đầu tư xây dựng cơ bản.

Hầu hết là nhà cấp 4 xuống cấp, trừ ngôi nhà 2 tầng của Sở Chỉ huy. Ranh giới đơn vị không có tường rào. Cổng ra vào chỉ là thanh ba-ri-e chắn ngang con đường đất. Bộ đội không thể tăng gia vì trâu bò của dân hàng ngày tràn vào đơn vị. Chiến sĩ vệ binh phải xua đuổi, nhiều hôm căng thẳng, xích mích với dân. Chuẩn bị kỷ niệm 20 năm thành lập Trung đoàn (31/12/1997), đơn vị phải dựng tạm một cổng chào bằng các cây bạch đàn và cót ép rồi sơn, lấy chỗ để cắm cờ và treo băng rôn, khẩu hiệu. Phát huy truyền thống “Trên cho 1 - dưới làm 3” và sức mạnh của tuổi trẻ Trung đoàn, quyết tâm của lãnh đạo, chỉ huy là phải dùng công sức của bộ đội kết hợp với nguồn bảo đảm hạn hẹp của trên một cách hiệu quả nhất để lo nơi ăn, chốn ở cho bộ đội. Dưới đây là vài câu chuyện mà tôi tâm đắc.

“Chiến dịch” trồng cỏ: Năm 1997, khi tôi mới được bổ nhiệm là Trung đoàn trưởng, thấy mặt sân vận động của đơn vị lổn nhổn sỏi vụn bằng hạt tấm, hạt đỗ. Anh em đá bóng thường xuyên có người bị ngã, xây xát, rớm máu chân tay, thậm chí bị trẹo khớp. Tôi hỏi tại sao trước đây không trồng cỏ? Anh em cho biết đã có một số lần trồng nhưng cỏ không sống được. Hỏi cách trồng thì anh em nói là cũng xới đất lên rồi cấy cỏ xuống như trồng rau. Tôi thấy với mặt đồi sỏi cứng khô, không chút đất màu thế này mà làm kiểu đó thì không được và quyết tâm tìm cách tạo nên một mặt sân êm xanh cho bộ đội hoạt động, đồng thời tô thêm màu xanh cho doanh trại. Một lần xem ti-vi, tôi thấy ở Pháp đang chuẩn bị tổ chức giải bóng đá thế giới (World Cup France 1998). Người ta cũng tạo những mặt sân vận động từ những tấm cỏ được mang từ nơi khác đến ghép lại. Khi đi dã ngoại, thấy ở khu vực xã Nam Sơn có những đám cỏ rất đẹp, thân và lá cỏ dẹt, ken dày xít vào nhau, không vươn cao, tôi nghĩ có thể dùng cho mặt sân vận động được. Tôi trao đổi với đồng chí Võ Hùng Cường, Bí thư Đoàn Cơ sở Trung đoàn và cũng là người ham đá bóng, nêu ý định, gợi ý cách làm và giao cho Đoàn làm thử một đám rút kinh nghiệm. Nếu thành công mới cho nhân rộng ra toàn bộ diện tích sân. Nếu không được thì cũng đỡ tốn công sức bộ đội.

Đầu xuân 1998, anh em đoàn viên bắt đầu thực hiện theo cách tôi chỉ đạo, hướng dẫn. Bộ đội làm thử trước mấy chục m2. Đào mặt sân sâu xuống khoảng 7-8 cm, xúc hớt bỏ lớp đất sỏi. Xuống khu vực Nam Sơn tìm cỏ, xắn thành các mảng đất dày có cỏ đẹp, kích thước khoảng 30 x 30 cm, chiều dày 7- 10 cm, đưa về ghép liền thành một thảm rộng. Lấy mặt đường băng bê tông diễu duyệt đội ngũ đã có trước đó làm cốt chuẩn. Do các mảng cỏ có độ dày không đều nên mặt sân không phẳng, phải dùng đất mùn để rắc chèn xuống dưới, đôn các chỗ mỏng lên, sau đó tưới nước. Hôm sau, khi đất còn ướt, dùng ống cống xi măng lăn lu trên mặt cỏ, tạo nên độ phẳng tương đối cho sân.

Theo dõi 2-3 tuần, thấy cỏ vẫn xanh tốt, tôi quyết định huy động lực lượng phủ xanh toàn bộ mặt sân theo phương pháp đó. Vẫn giao cho Đoàn thanh niên đóng vai trò xung kích, lao động vào các ngày nghỉ, các cơ quan Trung đoàn hỗ trợ về phương tiện, xăng dầu.

Bộ đội hăng hái bắt tay vào việc với kỹ thuật thành thạo hơn vì đã có kinh nghiệm qua đợt làm thử. Liên chi đoàn 903 chịu trách nhiệm tìm và lấy cỏ. Ban Kỹ thuật dùng xe “Mô nô” thùng sắt do đồng chí Toàn “say” lái chở về sân. Liên chi đoàn 901 và 902 ghép cỏ. Cứ như vậy, diện tích màu xanh rộng dần. Màu nâu đỏ, lổn nhổn những viên sỏi nhỏ của sân vận động dần bị thu hẹp lại.

Tuy nhiên, công việc cũng không hoàn toàn thuận lợi. Do Đoàn Cơ sở tổ chức bằng cách khoán việc cho các Liên chi đoàn nhưng không hiệp đồng, chỉ đạo chặt chẽ nên xảy ra tình trạng: Tuần trước Đoàn 3 lấy cỏ ồ ạt, không chú ý quy cách, có mảng cỏ quá mỏng, xếp thành từng đống, úa vàng, không có ai chuyên chở. Tuần sau, khi các đơn vị khu A đồng loạt triển khai thì lại tranh nhau nguồn cỏ cung cấp. Khi ghép cỏ, chỗ giáp ranh giữa các “mảnh khoán” của các đơn vị bị “chênh cốt”, không cùng độ cao. Tôi lại gọi mấy đồng chí cán bộ Đoàn đến rút kinh nghiệm và hướng dẫn phương pháp tổ chức điều hành. Công việc từ đó trôi chảy hơn. Chỉ sau mấy tuần, mặt sân đã được phủ kín cỏ xanh.

Nhưng sau đó, một khó khăn khác lại đến, đó là thiếu nước tưới cỏ. Năm đó hạn nặng. Dân không có nước cấy lúa. Một buổi chiều hai đồng chí Bí thư Đảng ủy và Chủ tịch Xã Hồng Kỳ vào đề nghị đơn vị hỗ trợ khẩn cấp. Chỉ trong một đêm, bộ đội Tiểu đoàn 902 đã đào xong một đoạn rãnh sâu tới 2 mét ở cổng Trung đoàn, sát Đường 35 để kịp lấy nước cho dân vào sáng hôm sau theo kế hoạch “phân phối” nước của Huyện. Lòng hồ ở trước Tiểu đoàn 902 cũng khô kiệt, biến thành bãi tập bắn súng cho chiến sĩ mới. Nước sinh hoạt cho bộ đội thiếu trầm trọng. Địa điểm đóng quân của Trung đoàn vốn đã là nơi khó khăn về nước. Mấy đối tác được mời vào khảo sát, tìm nước ngầm đều thất bại. Nguồn nước sạch cung cấp cho mấy bếp ăn vẫn chỉ là một giếng khoan duy nhất nằm sát một nhà dân phía Tây Nam doanh trại và vài chiếc giếng đào. (Một thời gian sau, có một đối tác thăm dò và khoan được một chỗ trúng mạch nước ngầm ở khu vực chăn nuôi của Tiểu đoàn 901). Trước tình hình đó, nếu không được tưới thì cỏ mới trồng sẽ bị chết, công sức của bộ đội sẽ bị tiêu tan. Tôi yêu cầu Ban Hậu cần phải bảo đảm xăng cho xe APC – 14 lấy nước từ chiếc giếng bỏ hoang trước nhà Đại đội 7 để tưới cỏ, không được dùng nước sạch sinh hoạt. Mỗi ngày tưới dè xẻn cũng phải hết 5 – 6 xi-tec. Vừa tưới, vừa chỉ biết thầm cầu trời mưa.

Thế rồi, một buổi tối, Đội chiếu phim của Bộ Tư lệnh xuống phục vụ. Buổi chiếu phim vừa kết thúc thì bỗng trời mưa khá to. Gần 10 giờ đêm, chúng tôi đang ngồi ở tầng 2 của Sở Chỉ huy thì đồng chí Nguyễn Văn Cường, Chủ nhiệm Hậu cần Trung đoàn, đội mưa, ôm một quả dưa hấu lên, cười rạng rỡ nói với đồng chí chí Dương Văn Dung, Phó Trung đoàn trưởng về Chính trị: “Cảm ơn Anh và nhờ Anh cảm ơn Đội chiếu phim của Binh chủng đã đem mưa xuống cho sân Trung đoàn. Nếu không, cứ mỗi ngày 5-6 tec nước tưới thế này, em xót hết cả ruột”. Tất cả vui vẻ cười vang, bổ dưa liên hoan luôn. Quả là ông trời không phụ công bộ đội.

Sau đó mấy tuần, cả sân cỏ tốt đều, được đưa vào sử dụng. Theo thời gian, anh em trồng dặm ngay những chỗ cỏ bị hỏng. Cỏ mau bén rễ vì đã có sẵn đất nền ở dưới rồi. “Chiến dịch” thành công. Sân vận động Trung đoàn lại thực sự là không gian trung tâm trong các hoạt động ngoài trời của tuổi trẻ đơn vị.

“Chiến dịch” hạ dốc, mở đường: Đường vào cổng chính của Trung đoàn 86 hồi ấy phải qua một đoạn bờ đập, ngăn cách một hồ nước nhỏ với ruộng lúa phía dưới thấp. Đường hẹp, dạng “sống trâu”, bị bào mòn nhanh theo thời gian và mưa gió. Xe cộ đi lại khó khăn, nhất là các xe đặc chủng lớn. Khi trời mưa dễ trơn trượt. Từ ngoài đi vào, qua được đoạn đập ấy lại gặp một con dốc cao che lấp cổng đơn vị, khiến cho nhiều người lần đầu đến Trung đoàn cũng thấy hơi ái ngại. Để lên đỉnh dốc, khi đi xe máy phải cài “số 1”. Nếu đạp xe thì lại càng rất vất vả. Nhìn anh em quân bưu, tiếp phẩm hàng ngày phải gò lưng đạp xe leo dốc, nhễ nhại mồ hôi, tôi quyết tâm hạ dốc. Khi báo cáo để xin hỗ trợ, được Bộ Tư lệnh cho 10m3 dầu diezen, kết hợp với sức bộ đội để làm.

Đầu tháng 01/1999, sau khi thống nhất trong Ban Chỉ huy Trung đoàn, tôi trực tiếp họp với đồng chí Tỵ, Bí thư Đảng ủy, đồng chí Tuấn, Chủ tịch xã Hồng Kỳ, một số vị đại diện cho Tiểu khu Lâm trường, Cụm dân cư số 7 và các gia đình có liên quan về ý định hạ dốc, lấy đất để đắp cho con đập nói trên rộng ra và cao lên, vì khu vực này nằm ngoài đơn vị, do địa phương quản lý. Khi hạ dốc, phải xén vài mét đất đồi về phía ta-luy dương, nơi có bạch đàn của dân. Chỗ đắp đường có động chạm đến các cống qua ngõ mấy nhà dân… Được lãnh đạo Xã và bà con nhất trí, đồng tình, Trung đoàn bắt tay ngay vào chiến dịch hạ dốc trước khi bước vào giai đoạn huấn luyện 1. Ban Hậu cần tìm thuê máy đào xúc, kết hợp với bộ đội làm việc liên tục. Đất đá đào ra được chuyển xuống chân dốc đắp mở rộng con đập. Thời gian đầu, công việc thuận lợi. Càng về sau, càng khó khăn vì khi đào xuống dưới gặp hai vỉa đá ở hai đầu dốc chạy vắt qua đường. Máy đào gầm rú hết công suất mà khối lượng cũng chẳng được bao nhiêu. Cuối cùng, kết thúc hợp đồng, hết 10 m3 dầu mà con dốc vẫn dở dang. Bên B không dám ký tiếp vì “xương” quá. Một số anh em đơn vị chán nản nhìn mặt dốc nham nhở. Chỗ đất mềm thì máy moi khoét được sâu, chỗ gặp đá thì máy chỉ cào cào, trơ ra những vỉa, những ụ, thách thức con người.

Các phương án giải quyết vỉa đá được đưa ra bàn bạc. Có ý kiến đề nghị nhờ Bộ đội Công binh đánh mìn nhưng tôi thấy không được vì rất gần mấy nhà dân. Tuy có thể dùng lượng thuốc nổ nhỏ nhưng nhỡ nhà họ bị rung, nứt, sập do đánh mìn thì hậu quả sẽ rất phức tạp. Tôi quyết định dùng sức bộ đội. Các Tiểu đoàn 901, 902 thành lập các tổ đục đá, mỗi tổ 5 – 6 người. Ban Hậu cần bảo đảm chòong, búa, xà beng. Bộ phận này thay nhau “tỉa” dần hai vỉa đá. Chỗ còn lại, đất mềm hơn thì phát động bộ đội “lao động cộng sản” vào ngày cuối tuần theo hình thức “cuốn chiếu” vì mặt bằng chật hẹp, không thể làm ồ ạt nhiều người cùng một lúc.

Các Ban của Trung đoàn bộ lần lượt được huy động làm trước vì anh em em cơ quan nói chung là cao tuổi hơn, có kinh nghiệm hơn cánh lính trẻ. Đồng chí Dương Văn Quyển, Chủ nhiệm Kỹ thuật Trung đoàn được giao “mở màn” một đoạn làm mẫu vì anh Quyển là người được tôi tin tưởng về phương pháp tổ chức, điều hành. Mặt khác, Ban Kỹ thuật lại thuận lợi về phương tiện, dụng cụ làm việc. Yêu cầu của tôi là hạ sâu dần từng nấc 20 cm ở từng phần đường. Làm đâu, gọn đó vì vẫn phải bảo đảm cho giao thông hàng ngày. Băng, cờ, khẩu hiệu, loa đài được Ban Chính trị triển khai rôm rả, tạo nên khí thế sôi nổi, phấn chấn trên công trường. Khi bộ đội làm việc, tôi thường xuyên ra kiểm tra, động viên, khích lệ, nhất là anh em đục đá, bởi vì bộ phận này ít người, việc nặng. Có người bị phồng rộp cả lòng bàn tay, anh em dễ buồn, nản. Cứ như vậy, sau mỗi đợt “lao động cộng sản” của một đơn vị, mặt dốc lại thấp dần, còn mặt đập dưới chân dốc thì rộng ra, cao lên. Bộ đội như được gần hơn với thế giới bên ngoài.

Khi tôi rời Trung đoàn (tháng 7/2000), công việc hạ thấp dốc cũng tạm dừng. Đến năm 2007, chuẩn bị kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống Trung đoàn, tôi đã là Tư lệnh Binh chủng, chỉ đạo cho đơn vị tổ chức một đợt hạ dốc nữa. Sau đó, các doanh nghiệp bên ngoài lấy đất đồi hai bên để làm đường, mặt bằng được rộng thêm ra. Đơn vị được đầu tư đổ bê tông thành con đường vào đơn vị như hiện nay.

***

Các cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 86 ngày xưa (Lữ đoàn 86 ngày nay), có quyền tự hào về một thời họ đã cùng đoàn kết, kề vai vượt qua biết bao gian khó. Những giọt mồ hôi, công sức, tình cảm của họ đã biến mảnh đất cằn khô, đầy sỏi đá thành một doanh trại ngày càng chính quy, xanh – sạch – đẹp. Ai khi chia tay đơn vị cũng không khỏi lưu luyến, bùi ngùi, đúng như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”.

Sau này, mỗi khi có dịp trở lại nơi mình từng gắn bó năm xưa, tôi lại thấy mình như trẻ lại, mặc dù những gốc cỏ nằm ở mặt sân vận động trơ trụi ngày nào cũng đã hơn 20 tuổi. Trong tôi trào dâng cảm xúc nhớ nhung, yêu mến, quý trọng, biết ơn những giọt mồ hôi của lớp lớp cán bộ, chiến sĩ đã cống hiến cho đơn vị, cho Binh chủng những tháng năm qua./.


Chia sẻ:

Để lại bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *