Trang thông tin điện tử Binh chủng Hóa học

collapse
...
Trang chủ / Tin bài tổng hợp / Gợi ý những nét chính về nội dung Cuộc Thi tìm hiểu "Bộ đội Hoá học 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành" chào mừng kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Bộ đội Hóa học (19/4/1958 - 19/4/2018)

Gợi ý những nét chính về nội dung Cuộc Thi tìm hiểu "Bộ đội Hoá học 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành" chào mừng kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Bộ đội Hóa học (19/4/1958 - 19/4/2018)

04/06/2017  Hưng Nguyễn 2,332 lượt xem
Gợi ý những nét chính về nội dung Cuộc Thi tìm hiểu "Bộ đội Hoá học 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành" chào mừng kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Bộ đội Hóa học (19/4/1958 - 19/4/2018)

Câu 1: Đồng chí nêu tóm tắt sự hình thành, phát triển và những thành tích nổi bật của Bộ đội Hoá học trong gần 60 năm qua.

Gợi ý trả lời:

I. TÓM TẮT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN BỘ ĐỘI HÓA HỌC

1. Sự ra đời của Bộ đội Hóa học

Sau Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương (20/7/1954), cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa; đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Hội nghị lần thứ 12 (mở rộng) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (3/1957) đã xác định phải “... tích cực xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh, tiến dần từng bước đến chính quy hoá... làm cho Quân đội ta trở thành một lục quân cách mạng, chính quy và tương đối hiện đại; đồng thời đặt cơ sở cho các quân chủng và Binh chủng khác”. Đó là tiền đề cho sự ra đời, phát triển một loạt các quân Binh chủng, trong đó có Binh chủng Hoá học.

Thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của BCHTW (khóa II) và chủ trương của Tổng Quân uỷ và Bộ Quốc phòng về xây dựng quân đội ta từng bước tiến lên chính quy hiện đại, năm 1956 Bộ đã cử một số cán bộ ra nước ngoài học tập về chuyên ngành hoá học, đồng thời thành lập “Tổ nghiên cứu tác chiến dưới điều kiện vũ khí hoá học và nguyên tử” thuộc Cục Quân huấn do đồng chí Đặng Quân Thuỵ phụ trách. Sau khi số cán bộ hoá học được đào tạo từ nước ngoài về, Khoa Hóa học Trường Sĩ quan Lục quân được thành lập và đào tạo cán bộ hoá học đầu tiên (c37); năm 1957, tiếp tục mở thêm 2 lớp (c52, c53) học viên đào tạo dài hạn 3 năm.

Tháng 7/1957, thành lập Khoa Hoá học tại Trường Trung cao quân sự, làm nhiệm vụ bồi dưỡng kiến thức phòng chống vũ khí huỷ diệt lớn cho cán bộ trung cao cấp trong toàn quân.

Ngày 17/3/1958, thành lập Phòng Hoá học- Nguyên tử thuộc Tổng cục Quân huấn (được tổ chức từ Tổ nghiên cứu hoá học, hạt nhân), Phòng lúc đầu có 4 đồng chí: Đặng Quân Thuỵ, Trần Khuê, Lê Liêm, Nguyễn Phúc Thức; đồng chí Đặng Quân Thuỵ làm Trưởng phòng.

Ngày 19/4/1958, thành lập Tiểu đoàn Hoá học trực thuộc Trường Sĩ quan Lục quân (phiên hiệu d6). Cùng ngày, Bộ cũng quyết định thành lập 2 đại đội hoá học trực thuộc 2 Sư đoàn bộ binh 308 và 320. Đây là những tổ chức tiền thân của Binh chủng Hoá học.

Năm 1973, Thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu ký quyết định lấy ngày 19/4/1958 là Ngày truyền thống của Bộ đội Hóa học.

2. Sự hình thành và phát triển của Bộ đội Hóa học

2.1. Giai đoạn từ năm 1958 đến năm 1964

Quân khu 3: Năm 1964, thành lập Phòng Hoá học quân khu (do sự hợp nhất của Quân khu Tả ngạn với Quân khu Hữu Ngạn).

Quân khu 4: Tháng 2/1959, bộ phận chỉ đạo hoá học quân khu được thành lập. Tháng 6/1959, thành lập Ban Hoá học. Tháng 6/1961, Phòng Hoá học Quân khu được thành lập. Ngày 02/02/1961, thành lập Tiểu đoàn PH38.

Ngày 30/01/1962, thành lập Tiểu đoàn 902. Đổi tên Tiểu đoàn 6 thành  Tiểu đoàn 901.

Ngày 06/12/1962, thành lập kho khí tài K61 thuộc Phòng Hoá học- Nguyên tử.

Tháng 11/1964, thành lập Phòng Hoá Miền

2.2. Giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1975

Quân khu 5: tháng 01/1965, thành lập Ban Hoá học.

Quân khu 9: tháng 5/1965, thành lập Ban Hóa học.

Ngày 9/5/1966, Phòng Hoá học- Nguyên tử phát triển thành Cục Hóa học trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu.

Ngày 15/8/1967, thành lập Xưởng khí tài X61 trực thuộc Cục Hoá học.

2.3. Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1995

Ngày 17/7/1976, Cục Hoá học phát triển thành Bộ Tư lệnh Hoá học trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Ngày 21/9/1976, thành lập các cơ quan Bộ Tư lệnh, Trường Sĩ quan Hoá học và Viện Hoá học Quân sự.

Ngày 24/9/1976, thành lập Tiểu đoàn 902 (trên cơ sở tiểu đoàn hoá học Quân đoàn 1).

Ngày 15/9/1976, thành lập Tiểu đoàn 903 (trên cơ sở 2 đội hoá học Quân khu 3 và một đại đội hoá học Quân khu 2.

Tháng 9/1977, tổ chức Cơ quan tiền phương Bộ Tư lệnh Hoá học tại phía Nam.

Ngày 31/12/1977, thành lập Trung đoàn 86. Năm 2013 nâng cấp thành Lữ đoàn 86.

Tháng 8/1978, thành lập Kho K62.

Ngày 20/12/1982, thành lập Tiểu đoàn PH905.

Ngày 28/02/1990 thành lập Kho hoá học K63.

Ngày 21/4/1995, nâng cấp Xưởng X61 thành Xí nghiệp 61. Năm 2013 nâng cấp thành Nhà máy X61.

Ngày 20/5/1995, thành lập Tiểu đoàn 906 và Kho K64.

2.3 Giai đoạn từ 1996 đến 2015

Ngày 8/7/1996, thành lập Tiểu đoàn 907.

Ngày 20/8/2008, thành lập Trung đoàn PH87. Năm 2013 nâng cấp thành Lữ đoàn PH87

Ngày 16/3/2009 thành lập Viện Hóa học-Môi trường quân sự trên cơ sở hợp nhất Phân viện Phòng chống vũ khí NBC và Trung tâm CNXLMT.

- Năm 2011, thành lập các Trung tâm ứng phó sự cố hóa học, phóng xạ, hạt nhân

Đến nay, lực lượng Hóa học Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển thành hệ thống từ cơ sở đến toàn quân tương đối toàn diện, có đầy đủ lực lượng chiến đấu cơ động, cơ sở sản xuất, bảo đảm, giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học. Ở các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng có Cơ quan và các phân đội hóa học.

II. THÀNH TÍCH NỔI BẬT

TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

Binh chủng Hoá học (BĐHH) là lực lượng duy nhất làm nòng cốt đảm bảo phòng hoá trên các chiến trường. BĐHH đã khắc phục khó khăn, gian khổ, mưu trí, dũng cảm, sáng tạo trong chiến đấu, cụ thể:

Một là, hoàn thành đặc biệt xuất sắc nhiệm vụ sử dụng súng phun lửa và vũ khí thu được của địch để tiêu diệt địch([1]). Bên cạnh việc sử dụng súng phun lửa phối hợp cùng các lực lượng chủ động tiến công tiêu diệt địch, BĐHH còn tích cực sáng tạo dùng vũ khí hoá học của địch để đánh lại địch, tạo uy hiếp tâm lý lớn đối với chúng và hạn chế được sử dụng vũ khí hoá học([2])... góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

 Hai là, với nghệ thuật sáng tạo, có đặc trưng riêng, Bộ đội Hoá học đã sử dụng có hiệu quả màn khói và các phương tiện khác để nguỵ trang che dấu lực lượng ta, cấu trúc các trận địa hoả lực giả để nghi binh lừa địch, thu hút hàng ngàn tấn bom đạn địch vào các trận địa giả, bảo đảm an toàn cho bộ đội, xe tăng của ta chiến đấu, góp phần bảo đảm cho các lực lượng khác chiến đấu thắng lợi trên chiến trường miền Nam. Ở miền Bắc, BĐHH đã trực tiếp thực hiện có hiệu quả 385 trận thả khói nguỵ trang nghi binh trận địa thu hút làm lạc hướng bom đạn địch, bảo vệ an toàn nhiều mục tiêu kinh tế, chính trị, quân sự quan trọng của đất nước([3]).

Ba là, hoàn thành đặc biệt xuất sắc nhiệm vụ làm nòng cốt bảo đảm hoá học phục vụ chiến đấu, hướng dẫn phát hiện và khắc phục kịp thời hậu quả địch sử dụng vũ khí hoá học, giảm thiểu tổn thất cho lực lượng ta. BĐHH đã quán triệt và vận dụng đúng đắn quan điểm, đường lối quân sự của Đảng; vận dụng sát thực tiễn chiến trường; với tinh thần chiến đấu ngoan cường, không quản ngại hy sinh, gian khổ, độc hại, BĐHH đã nhanh chóng có mặt ở những nơi bị địch tập kích, phun rải chất độc hoá học, làm nòng cốt hướng dẫn bộ đội và nhân dân cách phòng chống, khắc phục hậu quả địch sử dụng vũ khí hoá học.

Bốn là, hoàn thành đặc biệt xuất sắc nhiệm vụ sản xuất, quản lý, vận chuyển, sửa chữa, bảo đảm hàng nghìn tấn trang bị khí tài, vật tư hoá học đáp ứng yêu cầu phòng hoá trên chiến trường. BĐHH được tăng cường cho các phân đội bộ binh sử dụng vũ khí đặc chủng và vũ khí của địch, đánh lại địch, lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Năm là, kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền vận động nhân dân đấu tranh chính trị với thu thập bằng chứng tố cáo việc quân Mỹ, Việt Nam Cộng hòa phun rải hàng triệu lít chất độc diệt cây và hàng nghìn tấn chất độc CS trên chiến trường miền Nam trong các hội nghị quốc tế, góp phần quan trọng cho chiến thắng trên bàn ngoại giao và kêu gọi nhân dân tiến bộ trên thế giới đấu tranh chống cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn bạo của quân đội Mỹ tại Việt Nam.

Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước BĐHH đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng và danh hiệu cao quý, trong đó Binh chủng Hoá học được tặng Danh hiệu “Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân” trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

HÒA BÌNH LẬP LẠI ĐẾN NAY

Đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống vẻ vang của mình, BĐHH luôn đoàn kết, thống nhất; tự lực, tự cường, chủ động khắc phục khó khăn, sáng tạo, làm chủ vũ khí, khí tài trang bị, có mặt kịp thời ở những nơi độc xạ, thu gom, xử lý, tiêu huỷ hàng trăm tấn chất độc, bom đạn hoá học ở các kho, sân bay, bến cảng... do Mỹ để lại, từng bước giúp nhân dân ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế-xã hội, tạo được lòng tin cho cấp uỷ, chính quyền địa phương. Cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đánh thắng 2 cuộc chiến tranh biên giới, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Cả nước tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH. Nhiệm vụ của Quân đội nói chung, của Binh chủng Hoá học nói riêng có những bước phát triển mới, nặng nề phức tạp hơn, yêu cầu ngày càng cao; BĐHH tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chiến đấu mới với tính chất nguy hiểm, độc hại cao, yêu cầu tinh thần và trách nhiệm lớn như: điều tra, thu gom, nghiên cứu công nghệ và trực tiếp xử lý các loại chất độc hoá học tồn lưu sau chiến tranh trên toàn miền Nam, nhất là các “điểm nóng” về chất độc da cam/dioxin, đồng thời làm nòng cốt xử lý các sự cố hoá chất độc-xạ, bảo vệ môi trường sinh thái; xây dựng đơn vị, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phòng chống khủng bố, chống bạo loạn lật đổ; phối hợp bảo vệ an toàn các sự kiện chính trị lớn của quốc gia và quốc tế tổ chức tại Hà Nội và các thành phố lớn; góp phần giữ vững ổn định chính trị của đất nước. Một số thành tích nổi bật của BĐHH đó là:

1. Hoàn ­thành xuất sắc nhiệm vụ điều tra, thu gom, xử lý chất độc tồn lưu sau chiến tranh, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước

Hậu quả chiến tranh do Mỹ gây ra cho nhân dân ta rất nặng nề([4]). BĐHH được giao nhiệm vụ điều tra, thu gom, xử lý chất độc hoá học tồn lưu sau chiến tranh, đây là nhiệm vụ chiến đấu thời bình, song với ý thức chính trị và bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần trách nhiệm, ý chí quyết tâm cao, trình độ chuyên môn sâu, BĐHH không quản độc hại, nguy hiểm đe doạ sức khoẻ và tương lai nòi giống, hạnh phúc của chính mình, đã có mặt ở những nơi nguy hiểm nhất, làm cho môi trường trở lại trong sạch, an toàn. Trong những năm qua, BĐHH  đã trực tiếp tiến hành điều tra, thu gom, nghiên cứu, triển khai các quy trình công nghệ phù hợp để xử lý chất độc hoá học tồn lưu sau chiến tranh trên địa bàn từ Quân khu 4 đến Quân khu 9; phát hiện và trực tiếp xử lý triệt để trên 400 tấn chất độc CS và đạn dược chứa CS cùng nhiều loạt hoá chất độc hại khác; trong đó có “điểm nóng” chất độc CS tại Quy Nhơn-Bình Định theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Đặc biệt Binh chủng đã tự nghiên cứu thành công “Quy trình công nghệ xử lý đất nhiễm chất độc hoá học chứa dioxin phù hợp với điều kiện Việt Nam”, đây là công nghệ đã được Hội đồng khoa học cấp Nhà nước đánh giá xuất sắc, được áp dụng có hiệu quả trong xử lý “điểm nóng” chất độc hoá học chứa dioxin tại quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) và sau đó là sân bay Biên Hoà (Đồng Nai), tiết kiệm nhiều tỷ đồng cho ngân sách nhà nước. Đồng thời trực tiếp thực hiện các dự án chống lan toả tạm thời dioxin ở sân bay Phù Cát (Bình Định) (Z7), sân bay Đà Nẵng (Z8). Điều tra, khảo sát, lấy mẫu phân tích chất độc da cam/dioxin ở 11 “điểm nóng” tại 7 sân bay ở phía Nam (Z9). Các “điểm nóng” ô nhiễm chất độc hoá học tồn l­ưu sau chiến tranh vẫn đang đư­ợc BĐHH tích cực xử lý. Bên cạnh đó, BĐHH còn trực tiếp xử lý an toàn tuyệt đối hàng chục tấn vũ khí, đạn dược hoá học khác (napal, photpho, XM-74...) của Mỹ còn sót lại sau chiến tranh, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen.

Những thành tích đặc biệt của BĐHH lập được trong xử lý chất độc tồn lưu, khắc phục hậu quả chiến tranh đã trực tiếp thiết thực góp phần quan trọng, tạo môi trường an toàn để phát triển kinh tế- xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp CNH,HĐH đất nước

2. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xử lý sự cố hoá chất độc-xạ, bảo vệ môi trường, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Binh chủng Hoá học đã thực hiện xuất sắc vai trò tham mưu xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường trong quân đội; làm nòng cốt, tham gia ứng cứu và trực tiếp xử lý nhiều sự cố hoá chất độc, xạ, bảo vệ môi trường([5]).

Đã thiết kế, lắp đặt hệ thống xử lý nước thải, khí thải cho nhiều khu công nghiệp và y tế trong và ngoài quân đội; các hệ thống xử lý nước cố định và cơ động cho các đồn biên phòng, đơn vị quân đội đóng quân vùng sâu, vùng xa và nhân dân vùng bị bão lụt ở Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, được tổ chức UNICEF và nhân dân các địa phương đánh giá cao.

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quan trắc, cảnh báo diễn biến tác động hoá học, phóng xạ trong không khí ở các mục tiêu, địa bàn quan trọng của đất nước([6]). Khảo sát, điều tra hiện trạng môi trường quân sự, các xí nghiệp, bệnh viện, kho tàng, trường học trên địa bàn Quân khu IV, các đơn vị thuộc Bộ CHQS các tỉnh, thành phố: Thừa Thiên Huế , Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá. Tiến hành đánh giá hiện trạng, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường cho các khu đô thị, nhà máy, xí nghiệp khu công nghiệp([7]). Sau sự cố nhà máy điện hạt nhân tại Nhật Bản (3/2011), Binh chủng đã kịp thời quan trắc đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ trong không khí trên địa bàn các quân khu, cung cấp tư liệu kịp thời cho Bộ Khoa học-Công nghệ, làm cơ sở để Nhà nước xác định các phương án đối phó. Tiến hành điều tra, quản lý chất thải nguy hại ở các đơn vị Quân đội và nhiều địa phương; giúp một số Bộ, ban, ngành, địa phương điều tra, truy tìm, thu hồi các nguồn phóng xạ bị thất thoát; tiến hành tẩy xạ bảo đảm an toàn cho người và môi trường, ổn định trật tự xã hội.

Binh chủng còn tiến hành phân tích, kết luận các mẫu hoá chất, phóng xạ lạ ở Đồng Nai, Bình Định, Huế, Phú Yên, Hà Nội, Hoà Bình... góp phần ổn định dư luận và cuộc sống của nhân dân, được Bộ Tài nguyên-Môi trường, Bộ Khoa học -Công nghệ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và chính quyền các địa phương đánh giá cao([8]).

3. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị trọng tâm sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, đào tạo phòng hoá, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Binh chủng

* Hoàn thành xuất sắc chức năng tham mưu cho Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng, phát triển tiềm lực phòng hoá

Nắm vững chức năng, nhiệm vụ của một Binh chủng vừa chiến đấu, vừa bảo đảm, Binh chủng đã chủ động, tích cực tham mưu, đề xuất với Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng các giải pháp xây dựng và phát triển tiềm lực phòng chống vũ khí huỷ diệt lớn cân đối vững chắc trên các hướng, địa bàn chiến lược cả về lực lượng chiến đấu và hệ thống cơ sở bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật phòng hoá, sẵn sàng bảo đảm cho lực lượng vũ trang nhân dân đánh thắng chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, trong điều kiện địch sử dụng vũ khí huỷ diệt lớn cũng như trong các thách thức an ninh phi truyền thống (hoạt động khủng bố, sự cố, thảm hoạ hoá chất, sinh học, phóng xạ, hạt nhân...)

Chủ động tham mưu cho Nhà nước, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng  xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực hoá học, phóng xạ trong thi hành các Luật: Quốc phòng, Dân quân tự vệ, Bảo vệ môi trường, Hoá chất, Năng lượng nguyên tử... Chủ trì và tham gia xây dựng, đề nghị Chính phủ và Bộ Quốc phòng ban hành một số chế độ, chính sách đặc thù cho BĐHH; ban hành Hướng dẫn công tác phòng hoá cho toàn quân thực hiện Nghị định 117 của Chính phủ và Thông tư 10 của Bộ Quốc phòng về Phòng thủ dân sự... Tham mưu trúng, đúng cho Bộ đưa nội dung xây dựng tiềm lực phòng chống vũ khí huỷ diệt lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước vào chương trình bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng-An ninh cho các đối tượng

Chủ động tham mưu xử lý tốt việc thực hiện công ước quốc tế về kiểm soát và ngăn cấm vũ khí hoá học, hạt nhân. Trực tiếp hướng dẫn, chuẩn bị nội dung và tham gia phục vụ hoạt động thanh sát quốc tế tại các cơ sở hoá chất trên địa bàn các Quân khu 1, 2, 3, 5, 7, BTL Thủ đô Hà Nội... vừa đúng luật pháp quốc tế và Việt Nam, được các tổ chức quốc tế  đánh giá cao; vừa bảo đảm an ninh quốc gia. 

* Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu

 Binh chủng đã thường xuyên quán triệt, giáo dục cho cán bộ chiến sỹ nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, nêu cao tinh thần cảnh giác, duy trì nghiêm các chế độ trực sẵn sàng chiến đấu theo quy định, thường xuyên luyện tập thành thạo các phương án tác chiến, không để bị động bất ngờ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống. Tích cực chủ động nghiên cứu nắm chắc tình hình các mục tiêu đảm nhiệm, xây dựng các phương án chiến đấu, các tình huống địch có thể sử dụng tác nhân, hoá học, sinh học, phóng xạ và các sự cố hoá chất độc xạ có thể xảy ra trong các cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội quan trọng trên các địa bàn trọng điểm, để dự kiến các biện pháp xử lý thích hợp, hiệu quả. Trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của toàn Binh chủng không ngừng được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn các mạng mới.

Đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo đảm phòng hoá, tham gia bảo vệ an toàn tuyệt đối các mục tiêu khi diễn ra các sự kiện chính trị, văn hoá quan trọng của Đảng, đất nước và quốc tế diễn ra ở Việt Nam (các kỳ Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, các Hội nghị cấp cao APEC, ASEM, ASEAN, SOM, ADMM+...); các hoạt động văn hoá-thể thao lớn như Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, SEA GAMES - 22... nhiều tập thể và cá nhân được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an khen thưởng.

Tổ chức hàng trăm cuộc diễn tập từ cấp Tiểu đoàn đến cấp Trung đoàn theo các phương án sẵn sàng chiến đấu, tham gia nhiều cuộc diễn tập hiệp đồng quân, Binh chủng; phối hợp thực hiện nhiều cuộc diễn tập chống khủng bố, chống bạo loạn lật đổ, diễn tập ứng phó sự cố hoá chất độc-xạ, cứu hộ, cứu nạn... bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và trang bị.

Ngoài ra, hằng năm còn hăng hái, tích cực tham gia hàng chục cuộc dập cháy rừng, chống lụt bão, cứu hộ, cứu nạn trong các sự cố ở các địa phương (Hà Nội, Hoà Bình, Thanh Hóa, Cao Bằng, Đồng Nai, Bình Định...); được chính quyền địa phương khen ngợi. Luôn coi trọng luyện tập các phương án bảo vệ kho tàng, trạm, xưởng, doanh trại, toàn Binh chủng an toàn tuyệt đối, không xảy ra cháy nổ, mất mát.

* Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu

Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Binh chủng luôn có nhận thức đúng đắn nhiệm vụ trọng tâm huấn luyện chiến đấu, tính đặc thù về công tác huấn luyện phòng hoá. Từ đó quán triệt thực hiện nghiêm các Chỉ thị của Bộ Quốc phòng, thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác huấn luyện chiến đấu cho các đối tượng huấn luyện phòng hoá chuyên môn, huấn luyện phòng hoá phổ thông... Trong tổ chức thực hiện đã bám sát phương châm "Cơ bản, thiết thực, vững chắc", tích cực nghiên cứu, đổi mới hình thức, phương pháp huấn luyện sát với thực tế chiến đấu thời bình của BĐHH là chống khủng bố, xử lý chất độc tồn lưu sau chiến tranh, khắc phục sự cố hoá học, phóng xạ... từng bước nâng cao tiềm lực phòng hoá cho Quân đội và nhân dân.

Hằng năm, Binh chủng đều hoàn thành 100% các nội dung huấn luyện theo quy định, kết quả 100% đạt yêu cầu, có trên 85% khá giỏi, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ SSCĐ trong các tình huống mới. Các đơn vị hoá học toàn quân đều đạt tiêu chuẩn huấn luyện chuyên môn Binh chủng giỏi. Một số đơn vị được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba vì đã đạt thành tích xuất sắc trong công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu.

Tham gia bồi dưỡng kiến thức quốc phòng về nội dung phòng hoá cho hàng nghìn lượt cán bộ ở Trung ương và địa phương trong đó có các đối tượng 1, 2; huấn luyện phòng hoá cho hàng chục nghìn lượt quân dự bị động viên; huấn luyện phòng hoá phổ thông cho sinh viên, học sinh nhiều trường đại học, trường phổ thông; được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba về thành tích huấn luyện dự bị động viên. Ngoài ra còn giúp các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng, Chính phủ xây dựng kế hoạch và chỉ đạo các cuộc diễn tập cứu hộ, cứu nạn về hoá học, phóng xạ...

* Hoàn thành xuất sắc công tác đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đối với sự nghiệp xây dựng Binh chủng và Quân đội trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Binh chủng đã thường xuyên quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của trên; chủ động, tích cực tham mưu đề xuất biện các pháp xây dựng lực lượng nòng cốt về phòng chống vũ khí huỷ diệt lớn cho quân đội và quốc gia, giữ vững nguyên tắc trong xây dựng quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ.

Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật hoá học. Hằng năm, Binh chủng đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức phòng hoá cho hàng chục đối tượng cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật hoá học cho Quân đội, Công an, bạn Lào, Campuchia có trình độ từ sơ cấp đến đại học. Đã chỉ đạo Trường Sỹ quan Phòng hoá, các Khoa, Bộ môn hoá học của các Học viện, nhà trường trong quân đội chú trọng nâng cao chất lượng huấn luyện đào tạo phòng hoá, đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ phòng hoá trong toàn quân. Thường xuyên chỉ đạo kết hợp đào tạo tại chỗ với tại trường, tích cực luân chuyển để rèn luyện toàn diện đội ngũ cán bộ; tuyển chọn, gửi cán bộ, nhân viên chuyên môn đi đào tạo, bồi dưỡng tại các học viện, nhà trường trong và ngoài Quân đội, đào tạo ở nước ngoài. Đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn hoá học thường xuyên bảo đảm đủ về số lượng, chất lượng không ngừng được nâng cao; tỷ lệ cán bộ đạt trình độ đại học tăng từ 42,82% (1997) lên 92,90% (5/2017), trong đó sau đại học 20,03%; cán bộ, nhân viên ở cơ quan, đơn vị đều hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ.

4. Hoàn thành xuất sắc công tác nghiên cứu khoa học, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật vào huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật phục vụ tốt nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đổi mới.

Ngay sau khi đất nước thống nhất, Binh chủng Hoá học đã cử cán bộ tiếp quản lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, phối hợp nghiên cứu, quản lý làm tiền đề cho phát triển công nghiệp điện hạt nhân ngày nay.

Mặc dù khó khăn về tổ chức biên chế lực lượng nghiên cứu, song Binh chủng luôn bám sát thực tiễn, yêu cầu đòi hỏi của nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng và phát triển tiềm lực phòng chống vũ khí huỷ diệt lớn, bảo vệ môi trường... triển khai toàn diện trên các lĩnh vực khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học kỹ thuật quân sự, khoa học xã hội và nhân văn quân sự, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, chủ động nghiên cứu hơn 150 đề tài, biên soạn hơn 300 tài liệu, giáo trình, hơn 1000 mục từ điển Binh chủng Hoá học, trong đó 87 đề tài xuất sắc, được ứng dụng trong thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xử lý chất độc hoá học tồn lưu sau chiến tranh, bảo đảm trang bị thay thế nhập ngoại, đạt hiệu quả thiết thực([9]). Một số công trình khoa học được tặng giải thưởng Nhà nước. Điển hình là Cụm công trình “Phương tiện và công cụ hỗ trợ phòng chống bạo loạn” được Giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ năm 2005 và Xe thả khói KH-01 được giải Ba về sáng tạo khoa học cấp Quốc gia năm 2009

 Để khắc phục tình trạng trang bị hoá học xuống cấp nhanh, Binh chủng đã triển khai tích cực các hoạt động sáng kiến cải tiến kỹ thuật; tiếp thu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật bảo quản, niêm cất, kéo dài tuổi thọ của VKTBKT. Trong nhiều năm qua, Binh chủng Hoá học đã nghiên cứu, ứng dụng hàng trăm sáng kiến, giải pháp sáng tạo kỹ thuật vào sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật, mô hình học cụ phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xử lý chất độc tồn lưu sau chiến tranh... Hầu hết các sáng kiến, giải pháp kỹ thuật đều có giá trị thực tiễn cao, được nhân rộng phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và bảo đảm trang bị kỹ thuật cho toàn quân đạt hiệu quả cao, tiết kiệm được hàng trăm tỷ đồng ngân sách([10]).

Đầu tư, làm chủ công nghệ, sản xuất được nhiều loại trang bị hoá học mới bằng vật liệu trong nước, thay thế hàng nhập ngoại trang bị cho toàn quân và giúp Bạn Lào, Campuchia([11]), góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp Quốc phòng. Sản phẩm khí tài phòng hoá được Bộ Chính trị đánh giá tốt trong tổng kết thực hiện Nghị quyết 27-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đã sản xuất được hầu hết phụ tùng thay thế của các trang bị hoá học có trong biên chế không phải nhập ngoại... góp phần nâng cao tiềm lực trang bị hoá học từ nguồn lực trong nước và khẳng định vai trò, năng lực của Binh chủng Hoá học trong tham gia sản xuất công nghiệp quốc phòng.

Quy hoạch, tổ chức xây dựng các hệ thống kho chiến lược, kho dự trữ Quốc gia cho quốc phòng, các trạm sửa chữa kỹ thuật bảo đảm an toàn, bí mật, sẵn sàng ứng phó kịp thời các tình huống hoá học, phóng xạ trên các địa bàn chiến lược, hướng chiến lược quan trọng.

Thành tích nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của Binh chủng đã thực sự góp phần hiện đại hoá vũ khí, trang bị kỹ thuật hoá học phù hợp với đặc điểm tự nhiên và nghệ thuật tác chiến của quân đội ta, thay thế nguồn nhập ngoại, làm lợi về kinh tế hàng trăm tỷ đồng, đóng góp tích cực vào việc làm giàu tri thức khoa học nghệ thuật quân sự, kỹ thuật quân sự và khoa học xã hội nhân văn quân sự Việt Nam; bảo vệ môi trường sinh thái; đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH phát triển đất nước. Với những kết quả to lớn trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học; Binh chủng luôn được Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành chức năng và cấp uỷ và chính quyền nhân dân các địa phương đánh giá cao trình độ, khẳng định vị thế vai trò không thể thiếu của Binh chủng Hoá học trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

5. Binh chủng luôn chấp hành nghiêm chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Chủ động, tích cực xây dựng bản lĩnh chính trị, tổ chức Đảng, tổ chức chính quyền và các tổ chức quần chúng vững mạnh. Chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần cho Binh chủng và làm tốt công tác dân vận.

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và sự chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, Binh chủng đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, giữ vững định hướng tư tưởng. Tập trung quán triệt sâu sắc đường lối quan điểm của Đảng, Pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội, của Binh chủng trong tình hình mới; đã thể hiện tốt phẩm chất Binh chủng Cụ Hồ, thực sự gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh thầm lặng, chấp nhận thiệt thòi vì một môi trường an toàn, trong sạch và cuộc sống yên bình của nhân dân. Thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; 100% cán bộ, chiến sĩ, QNCN, CNVCQP luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp đổi mới đất nước, trung thành với Chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ ở nơi gian khổ, khó khăn, độc hại, nguy hiểm. Hàng nghìn lượt cán bộ, chiến sỹ hoá học tình nguyện xung phong vào các phân đội chiến đấu phòng chống khủng bố, xử lý chất độc tồn lưu sau chiến tranh, công tác ở Trường Sa và các địa bàn khó khăn với ý chí quyết tâm cao, trách nhiệm tốt, không có biểu hiện thoái thác nhiệm vụ, ngại nguy hiểm gian khổ. Nội bộ đoàn kết thống nhất, đơn vị an toàn tuyệt đối.

Các tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng luôn được chăm lo kiện toàn củng cố vững chắc. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng không ngừng được nâng cao, khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ của chỉ huy và các tổ chức quần chúng ngày càng tiến bộ; chất lượng  phân tích tổ chức Đảng, Đảng viên hằng năm có trên 95% tổ chức Đảng đạt TSVM, không có tổ chức Đảng yếu kém, đảng viên hoàn thành xuất sắc, hoàn thành tốt nhiệm vụ trung bình hàng năm đạt trên 85%; các tổ chức quần chúng có từ 87 đến 99% đạt vững mạnh; 29 năm liên tục Đảng bộ Binh chủng đạt TSVM, Binh chủng VMTD (1987- 2016).

Binh chủng thường xuyên quán triệt tổ chức thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết về công tác dân vận trong tình hình mới, 100% cơ quan, đơn vị Hoá học đều tổ chức kết nghĩa với cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể địa phương nơi đóng quân. Chủ động phối hợp với các địa phương tham gia có hiệu quả các phong trào, các cuộc vận động lớn của Đảng và Nhà nước như phong trào “Toàn quân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu vực dân cư”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Xoá đói giảm nghèo”, “Hiến máu nhân đạo”... Đặc biệt, phát huy kiến thức chuyên môn của mình, BĐHH đã giúp đỡ nhân dân bảo vệ môi trường, phát triển sản xuất, ổn định đời sống; 100% các cơ quan, đơn vị Binh chủng Hoá học đóng quân ở các địa bàn đều được nhân dân tin tưởng quý mến và được cấp uỷ, chính quyền địa phương tặng thưởng nhiều phần thưởng xứng đáng. Binh chủng đã tham gia tích cực vào việc tuyên truyền, cung cấp tư liệu cho việc đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam.

Toàn Binh chủng đã quán triệt nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của trên, thực hiện nghiêm điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội; xây dựng đơn vị chính quy thống nhất; 100% cán bộ, chiến sỹ QNCN, CNVQP tự giác chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, tỷ lệ vi phạm kỷ luật thông thường hàng năm giảm từ 0,7% năm 1997 xuống 0,25% năm 2011. Nhiều cơ quan, đơn vị của Binh chủng đã trở thành điểm sáng chuẩn mực đi đầu trong toàn quân về rèn luyện kỷ luật, xây dựng nếp sống chính quy.

Công tác chăm lo, nâng cao đời sống Binh chủng: Từ thực tế đời sống sinh hoạt Binh chủng còn nhiều khó khăn, Binh chủng đã kết hợp đầu tư của trên với động viên sự nỗ lực cố gắng về công sức của Binh chủng để xây dựng củng cố đơn vị. Hệ thống doanh trại được đầu tư xây dựng cơ bản khang trang, sạch đẹp, chính quy; trên 80% bếp ăn đơn vị có hệ thống nước nóng sử dụng năng lượng mặt trời, 100% Binh chủng các đơn vị phía Bắc được tắm nước nóng mùa đông. Tổ chức có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, phong trào “Đơn vị quản lý tài chính tốt”; phong trào “Chiến sỹ quân y làm theo lời Bác”, phong trào “Xây dựng doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp”. Các đơn vị đã khắc phục khó khăn, phát huy lợi thế của mình làm dịch vụ khoa học kỹ thuật, tổ chức tốt phong trào tăng gia sản xuất; trồng và chăm sóc hàng chục hec-ta cao su, cà phê, điều; liên tục phát triển đàn gia súc, gia cầm, ao cá, hàng năm thu hàng tỷ đồng đưa vào cải thiện đời sống Binh chủng. Đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ chiến sỹ trong Binh chủng ngày càng được nâng cao, môi trường văn hoá tốt, không có tệ nạn xã hội, văn hoá phẩm xấu độc xâm nhập vào đơn vị.

Những thành tích đặc biệt xuất sắc mà Binh chủng Hoá học đạt được trong thời kỳ đổi mới có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn và sâu sắc; góp phần quan trọng vào sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐH, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.

*  Những phần thưởng cao quý đã được Nhà nước Quân đội trao tặng (Trang Thông tin điện tử BĐHH)

Phát huy truyền thống "Phòng chống tốt, chiến đấu giỏi" 60 năm xây dựng chiến đấu và trư­­ởng thành, trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt là từ năm 1986 đến nay Binh chủng Hóa học đã lập nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam XHCN.

Câu 2: Đồng chí trình bày hậu quả của chất độc hóa học do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam và kết quả khắc phục của BĐHH cho đến nay?

1. Hậu quả - chất độc hóa học do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ không chỉ dùng các vũ khí sát thương mà còn sử dụng cả vũ khí hóa học, nhằm triệt hạ nguồn sinh sống của nhân dân Việt Nam, ngăn chặn bước tiến của lực lượng vũ trang cách mạng. Thực tế đã chứng minh cuộc chiến tranh hóa học do Mỹ tiến hành ở Việt Nam là cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất, dài ngày nhất và gây hậu quả thảm khốc nhất trong lịch sử loài người.

- Theo số liệu của Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockhom (Thụy Điển), trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, từ năm 1961 đến năm 1971 quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 9.000 tấn chất độc CS trên chiến trường miền Nam nước ta. Để sử dụng CS, quân đội Mỹ đã chế tạo hơn 20 loại vũ khí, khí tài, lựu đạn ném tay, ống phóng cá nhân, máy phun, đạn pháo 105mm, 106,7mm, đạn cối, rốc két E8, M158, can và thùng phuy chứa CS... để phun rải chất độc xuống chiến trường

 Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng (1975), chất độc CS và các vũ khí, phương tiện chứa CS vẫn còn tồn lưu với số lượng khá lớn. Do ảnh hưởng của thiên nhiên các hố chôn chất độc bị bào mòn để lộ các thùng, can chứa CS đã được chôn lấp trước đây. Mặt khác, trong quá trình tìm kiếm sắt vụn, làm nương rẫy, nhân dân đã phát hiện ra các thùng phuy, can nhựa và các loại vũ khí, phương tiện chứa chất độc CS, một số còn nguyên vẹn và một số bị phá hủy làm cho chất độc phát tán gây ô nhiễm môi trường. Sự tồn lưu lượng lớn chất độc CS và vũ khí, phương tiện chứa CS gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới sức khoẻ của cộng đồng, thậm chí đã có những trường hợp dẫn đến thương vong (huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận…), gây cản trở cho hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế… Ở một số địa phương kẻ xấu còn sử dụng chất độc CS để khủng bố, gây mất an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội (ở Tây Nguyên đầu năm 2001) gây nhiều nguy hiểm tiềm tàng cho con người và môi trường sinh thái...

- Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ đã thử nghiệm nhiều loại chất diệt cỏ khác nhau, trong đó sử dụng 3 loại chất chính là: Chất trắng (Agent White), chất xanh (Agent Blue), chất da cam (Agent Orange).

Chất độc da cam/dioxin là cụm từ dùng để chỉ đích danh nguồn gốc dioxin ở miền Nam Việt Nam là từ chất độc da cam mà quân đội Mỹ đã phun rải trên lãnh thổ Nam Việt Nam. Vì chất da cam mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam chứa một lượng tạp chất dioxin rất cao (trung bình là 10mg/kg).

Dioxin là tên gọi chung của hỗn hợp gồm 75 đồng phân và đồng loại polyclodibenzo-p-dioxin (PCDD); trong số các đồng phân và đồng loại của dioxin có 17 đồng phân có độc tính cao. Chất 2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin (2,3,7,8-TCDD) là độc nhất với hệ số độc quy ước bằng 1, nó được sinh ra trong quá trình sản xuất chất diệt cỏ 2,4,5-T (chiếm 50% thành phần chất da cam). Dioxin là chất cực độc, với liều lượng khoảng 14-37 phần tỷ miligam trên 1kg thể trọng trong 1 ngày đã gây tác hại đối với con người; liều gây chết người vào khoảng 60-70 phần nghìn miligam trên 1kg thể trọng. Trẻ em, bào thai là những đối tượng nhạy cảm nhất đối với dioxin.

Theo số liệu của quân đội Mỹ, trong vòng 10 năm (1961-1971) quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 77 triệu lít chất độc diệt cỏ (khoảng 95.000 tấn), trong đó chất da cam 49,3 triệu lít (63.100 tấn), chất trắng 20,6 triệu lít (23.100 tấn), chất xanh 4,7 triệu lít (6.200 tấn), chất tím, chất hồng, chất xanh mạ 2,4 triệu lít (2.600 tấn). Tất cả các hóa chất này đều có chứa dioxin. Tổng số lượng dioxin được rải xuống Việt Nam theo Stellman và cộng sự là 366kg.

Diện tích bị ảnh hưởng chất diệt cỏ là 2.631.297 hec-ta. Trong đó, có 86% bị phun rải 2 lần trở lên. Khoảng 11% bị phun rải hơn 10 lần. Trong số diện tích ảnh hưởng, có 80% bị rải hai lần trở lên. Liều lượng sử dụng chất da cam: 18-36kg/hec-ta; chất trắng 15-26kg/hec-ta; chất xanh 8kg/hec-ta; đặc biệt nếu sử dụng chất da cam để phá hủy hoa màu thì liều lượng sử dụng lên tới 60kg/hec-ta, có trường hợp còn cao đến mức 100kg/hec-ta.

Bệnh tật do chất độc da cam/dioxin gây ra đối với con người: Do độc tính cao, dioxin gây tổn thương mạnh đối với cơ thể con người, điển hình là bệnh ung thư gan và sinh con khuyết tật.

Dioxin đặc biệt có ảnh hưởng tới nhau thai của người mẹ (khi mang thai) và sự phát triển của bào thai, thậm chí phá huỷ sự hình thành của bào thai hay gây ra những trường hợp quái thai và tiếp tục ảnh hưởng đến đứa trẻ sau khi ra đời.

Dioxin gây nên biến động về di truyền và gây ung thư. Dioxin gây ra quái thai, gây đột biến gene, gây độc hại với các tế bào, đặc biệt là tế bào não, thận, gan, tim, gây ngộ độc phổi, ung thư, gây rối loạn nhiều quá trình trao đổi chất trong tế bào và tác động gián tiếp trên bộ máy di truyền tế bào.

Việc sử dụng chất độc da cam/dioxin đã gây ra thảm họa cho nhân dân Việt Nam. Khoảng 4,8 triệu người Việt Nam bị ảnh hưởng bởi chất da cam/dioxin. Trong khoảng thời gian từ 1961 đến 1971 có 14 triệu người dân sinh sống ở Nam Việt Nam và khoảng 2 triệu cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào Nam chiến đấu. Trong số 16 triệu người này đã sống, công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong vùng bị ô nhiễm chất độc hoá học có hàng trăm ngàn hộ gia đình có người thân là nạn nhân da cam. Trong 2 năm (1999 và 2000), Bộ LĐTB&XH điều tra, lập danh sách nạn nhân chất độc hoá học; kết quả điều tra có 447.845 nạn nhân trực tiếp và gián tiếp (đã chết 63.315 nạn nhân).

Theo báo cáo của Bộ LĐTB&XH gửi Ban Chỉ đạo 33, tính đến ngày 27/3/2006, có thêm 139.814 nạn nhân. Như vậy, theo báo cáo chính thức của Bộ LĐTB&XH, đến đầu năm 2006, số lượng nạn nhân chất độc hoá học được điều tra và xác định là 587.654 người.

Theo Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam, hiện có khoảng 150.000 trẻ em bị dị dạng ngay từ khi mới sinh, do cha mẹ của chúng bị phơi nhiễm chất da cam, chủ yếu là trong thời kỳ chiến tranh. Tác động lâu dài của của chất độc da cam/dioxin không chỉ có 20 năm, mà có thể lên tới 100 năm. Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ hai về chất độc hóa học diệt cỏ do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam và tác hại lâu dài của nó đối với thiên nhiên và con người được tổ chức tại Hà Nội (1993), nhiều nhà khoa học khẳng định: “Chất độc da cam của Mỹ đã hủy diệt thiên nhiên cây cỏ, hủy diệt sức khỏe con người, gây nhiều bệnh tật nặng nề, gây nên nhiều biến đổi gien di truyền qua mẹ hoặc qua bố, gây tai biến sinh sản, quái thai, dị dạng, dị tật của nhiều đứa con sinh ra, gây các bệnh ung thư…”.

Đối với hệ sinh thái: Là các dẫn xuất của 2,4-D và 2,4,5-T (họ phenoxyaxetic) bản thân 2,4-D và 2,4,5-T, khi sử dụng với những liều lượng thích hợp, là những chất kích thích sinh trưởng thực vật. Nhưng với liều lượng cao, kết quả ngược lại, sự hình thành những u cây và những thay đổi rõ nét về hình dáng của thân cây, lá cây, quả và các bộ phận khác của cây xuất hiện khi bị nhiễm độc thấp. Với liều lượng lớn, làm cho lá cây rụng trước khi đủ thời gian di chuyển để gây nhiễm độc một cách có hệ thống toàn bộ cây.

Các chất độc hóa học đã được rải từ Vĩ tuyến 17 tới tận mũi Cà Mau, tập trung ở các khu vực hàng rào điện tử McNamara (thuộc tỉnh Quảng Trị), A Lưới (tỉnh Thừa Thiên-Huế), Sa Thầy (tỉnh Kon Tum), khu Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh) và Cà Mau. Hơn 2 triệu hec-ta rừng trong tổng số hơn 10,3 triệu hec-ta đã bị phá hủy; trên 150.000 hec-ta rừng ngập mặn và khoảng 130.000 hec-ta rừng tràm của vùng châu thổ sông Mê Kông và hàng trăm nghìn hec-ta đất rừng nội địa bị phá hủy. Vùng Đông Nam Bộ có trên 50% diện tích tự nhiên bị tác động. Chiến khu D, Chiến khu C, rừng Bời Lời, rừng Củ Chi... bị rải hàng triệu lít chất độc, nhiều khu rừng đã bị triệt phá hoàn toàn như Mã Đà (Đồng Nai), Phú Bình, Bù Gia Mập (Bình Phước)...

2. Kết quả điều tra, thu gom, xử lý chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh

- Nghiên cứu, lựa chọn công nghệ

+ Từ năm 1996, Binh chủng đã chủ trì, thực hiện 7 dự án, nhiệm vụ điều tra, thu gom, xử lý chất độc CS. Đã tiến hành điều tra 293 quận, huyện, thị của 34 tỉnh, thành phố và các kho thuộc Tổng cục Kỹ thuật, Quân khu 5, 7, 9. Đã thu gom, xử lý  455,808 tấn chất độc CS và vũ khí, phương tiện chứa chất độc CS. Xây dựng bản đồ số hóa các điểm tồn lưu chất độc đã được phát hiện và đã xử lý.

+ Đã chủ trì, thực hiện 11 dự án, nhiệm vụ điều tra, khảo sát, đánh giá mức độ ô nhiễm và tiến hành xử lý đất nhiễm chất độc da cam/dioxin. Đã điều tra, phát hiện nhiều điểm ô nhiễm mới tại các sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát…; đề xuất các giải pháp trước mắt và lâu dài để xử lý cho từng sân bay, các số liệu điều tra này được Văn phòng Ban Chỉ đạo 33/Bộ Tài nguyên và Môi trường đánh giá cao, được sử dụng làm báo cáo tổng thể về tình hình ô nhiễm da cam/dioxin tại 3 “điểm nóng” (Biên Hòa, Phù Cát, Đà Nẵng)

Tại sân bay Biên Hòa, sau khi hoàn thành chôn lấp, cô lập gần 100.000m3 đất nhiễm chất độc da cam/dioxin trên diện tích 4,3 hec-ta (dự án XĐ-1), tiếp tục thực hiện dự án XĐ-2 đào xúc, vận chuyển đưa về hố chôn lấp cô lập 51.516m3 đất nhiễm.

Tại sân bay Phù Cát, đã tham gia tư vấn thiết kế kỹ thuật-tổng dự toán xử lý, chôn lấp 7.500m3 đất ô nhiễm chất độc da cam/dioxin do Văn phòng BCĐ33 làm chủ đầu tư.

Tại sân bay Đà Nẵng, trực tiếp giám sát công nghệ dự án: “Xử lý môi trường ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng” sử dụng vốn ODA của Chính phủ Mỹ do Quân chủng PK-KQ làm chủ đầu tư.

 Ngoài ra, còn thực hiện tốt các nhiệm vụ như: Tư vấn xây dựng phương án chống lan tỏa tạm ô nhiễm chất độc da cam/dioxin khu vực Tây Nam đường băng sân bay Biên Hòa do Văn phòng BCĐ33 là chủ đầu tư....Điều tra, đánh giá mức độ ô nhiễm chất diệt cỏ chứa dioxin và asen trong đất tại các sân bay dã chiến thuộc các Quân khu 4,5,7,9 và đề xuất các giải pháp xử lý  theo Quyết định số 4597/QĐ-BQP ngày 07/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

Kết quả thực hiện nhiệm vụ khắc phục hậu quả chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam của Binh chủng có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đã góp phần quan trọng vào việc đánh giá một cách tổng thể tình hình ô nhiễm chất độc hóa học trên các địa bàn, nhất là những địa bàn chiến lược quan trọng, cung cấp số liệu điều tra, khảo sát có độ tin cậy, làm cơ sở xây dựng dự án xử lý khu vực bị nhiễm chất độc; đồng thời làm cơ sở để Đảng, Nhà nước có những chính sách phát triển phù hợp, góp phần vào việc làm sống lại những “vùng đất chết”.

 Câu 3: Truyền thống tiêu biểu vẻ vang của BĐHH?

Gợi ý trả lời:

60 năm xây dựng, chiến đấu và tr­ưởng thành d­ưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà n­ước, Bộ Quốc phòng, BĐHH luôn phát huy bản chất truyền thống vẻ vang Quân đội nhân dân VN anh hùng, xây dựng nên truyền thống tốt đẹp, đó là:

1. Trung với Đảng, hiếu với dân, khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm hóa học được giao; biết vận dụng phát huy đường lối chiến tranh nhân dân để đánh thắng chiến tranh hóa học của kẻ thù xâm lược

Truyền thống trên đ­ược biểu hiện trong chiến đấu, công tác, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, thể hiện trong suy nghĩ tìm tòi, vận dụng đúng đắn, sáng tạo đ­ường lối, quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng để hoàn thành tốt nhiệm vụ. BĐHH là lực lư­ợng nòng cốt trong công tác phòng hóa, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đánh bại âm m­ưu, thủ đoạn sử dụng vũ khí hủy diệt lớn trong chiến tranh xâm lư­ợc Việt Nam của đế quốc Mỹ.

Quán triệt quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, Binh chủng Hóa học luôn giữ vững mối quan hệ đoàn kết, gắn bó và hiệp đồng với các lực l­ượng vũ trang và nhân dân để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

(Nêu một vài ví dụ để minh hoạ).

2. Luôn nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, biết đánh, biết thắng, dũng cảm, m­ưu trí, sáng tạo, ngoan c­ường trong chiến đấu, bảo đảm hóa học trong các trận chiến đấu giành thắng lợi.

Hầu hết cán bộ, chiến sỹ hóa học khi nhận nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dũng cảm, ngoan c­ường không sợ gian khổ hy sinh, quyết đi, quyết đến, quyết đánh và quyết thắng.

Quá trình chiến đấu BĐHH đã biết phát huy tính năng, tác dụng của vũ khí, đã cải tiến, tự chế tạo nhiều loại vũ khí trang bị, nâng cao hiệu quả trong chiến đấu.

Sử dụng màn khói ngụy trang, nghi binh bảo vệ các mục tiêu quan trọng, đánh lạc hướng địch, tạo điều kiện cho lực l­ượng phòng không bắn rơi máy bay, bắn cháy tàu địch thể hiện ý chí chiến đấu khôn khéo và khoa học.

(Nêu một số trận đánh tiêu biểu, tấm g­ương chiến đấu hy sinh dũng cảm)

3. Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cư­ờng, kiên trì sáng tạo, dám nghĩ, dám làm; thực hiện đúng đắn đường lối quân sự của Đảng vào thực tiễn hoạt động của Binh chủng Hóa học.

Là Binh chủng kỹ thuật, đ­ược trang bị khí tài t­ương đối hiện đại, ngày đầu có nhiều khó khăn trên các mặt: huấn luyện, chiến đấu, nh­ưng dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ư­ơng, sự giúp đỡ của các cấp, các ngành trong và ngoài quân đội, Binh chủng Hóa học đã từng bước v­ượt qua mọi khó khăn, sáng tạo, nêu cao tính tự lực, tự c­ường.

Trong những năm đổi mới đất n­ước, Binh chủng Hóa học đã tập trung các biện pháp nâng cao chất lượng HL, SSCĐ, bảo đảm hậu cần, tài chính, kỹ thuật và nghiên cứu nhiều đề tài các cấp nh­ư: Mặt nạ phòng độc, than hoạt tính, mặt nạ phòng hộ, keo dán, bơm trinh độc, các loại vũ khí lửa....

(Nêu một số thành tích tiêu biểu)

4. Kỷ luật tự giác nghiêm minh, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân tốt (lấy một số ví dụ, t­ư liệu, hình ảnh để minh hoạ cho phong phú, sinh động).

5. Nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế thủy chung chí nghĩa, chí tình.

Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và tr­ưởng thành, Binh chủng Hóa học đã góp phần  xây dựng mối quan hệ, nêu cao tinh thần quốc tế. Đặc biệt trong việc giúp đỡ bạn Lào và Căm Pu Chia sát cánh chiến đấu, giúp bạn phát triển lực lượng hóa học. BĐHH đã để lại nhiều tình cảm tốt đẹp đối với nhân dân Lào và Căm Pu Chia, góp phần hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả của quân đội ta.

Đối với chuyên gia quân đội Liên Xô, BĐHH luôn giữ vững mối quan hệ đoàn kết, khiêm tốn tranh thủ học hỏi những tinh hoa về nghệ thuật quân sự của bạn để vận dụng một cách hiệu quả, phù hợp với thực tế Việt Nam, từng b­ước xây dựng lực lượng Hóa học ngày càng phát triển./.

[1] Tiêu biểu: Chiến dịch Đồng Xoài (1965), phân đội phun lửa thuộc Phòng Hoá học Miền đã diệt 3 lô cốt, nhiều nhà xe; mùa khô 1966 -1967, Phân đội phun lửa Mặt trận Đường 9-bắc Quảng Trị diệt 6 xe tăng, xe bọc thép, đốt cháy 1 kho xăng, 1 kho đạn, tiêu diệt 64 tên địch. Chiến dịch Đường 9-Nam Lào (1971), Trị-Thiên (1972) và Mặt trận 139 Cánh Đồng Chum (Lào) năm 1971-1972, Đại đội 91 phun lửa thuộc Tiểu đoàn 902 Cục Hóa học đã tham gia chiến đấu hàng chục trận, tiêu diệt nhiều hỏa điểm, bắn cháy 4 xe tăng, 4 xe bọc thép 113, 243 tên Mỹ, ngụy;

[2] Chiến dịch Quảng Trị (1972), thu và cải tiến 500 quả đạn cối của địch trang bị cho phân đội súng cối của Trung đoàn 101, Sư đoàn 325 và tăng cường cho Trung đoàn 27, Sư đoàn 304 tham gia đánh 7 trận đạt hiệu quả cao. Quân khu Trị-Thiên đã sử dụng 155 quả đạn cối 82mm do BĐHH cải tiến tập kích vào Động Tranh (4/1972); Trung đoàn 101, Sư đoàn 325  sử dụng 200 quả đạn tập kích địch ở Chợ Sải tháng 10/1972.

[3] Nhà máy thuỷ điện Thác Bà-Yên Bái, Nhà máy nhiệt điện Uông Bí (Quảng Ninh0, Đài phát thanh Mễ Trì, Cầu Đuống (Hà Nội), cầu Đáp Cầu (Hà Bắc), cầu Kỳ Lừa (Lạng Sơn), cầu Đa Phúc (Vĩnh Phú), đập Thác Huống, Cầu Trung Giã, Nhà máy điện Việt Trì, Trạm biến thế Ba La Bông Đỏ, cầu Hàm Rồng...

[4] Trong chiến tranh, quân đội Mỹ đã rải xuống miền Nam Việt Nam nhiều loại chất độc hóa học, trong đó ước tính có khoảng 80 triệu lít chất độc hoá học, trong đó 61% là chất da cam chứa 366 kg dioxin làm 4,8 triệu người bị phơi nhiễm và môi trường sinh thái bị huỷ hoại.

[5] Điển hình là trực tiếp xử lý ô nhiễm môi trường do chôn lấp 350 tấn gia cầm bị dịch cúm H5N1 ở Hà Tây (cũ) (01/2004); trực tiếp và hướng dẫn nhân dân xử lý ô nhiễm môi trường do chôn lấp không đúng quy trình hàng trăm ngàn con lợn chết do dịch tai xanh ở (Thanh Hoá) (4/2008); xử lý ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật ở thành phố Hà Nội, các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang (1995-1997); tham gia cứu hộ, cứu nạn do ngạt khí độc tại xã Thái Học, Nguyên Bình (Cao Bằng) (01/2012); xử lý sự cố  hóa chất độc của tàu nước ngoài ở Cảng Chùa Vẽ (Hải Phòng) (2000); xử lý sự cố nổ hoá chất tại Công ty Cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng (12/2010)...

[6] Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình, khu quân sự Sơn Tây-Hòa Lạc, Sân bay Nội Bài; các quân cảng, các công trình chiến đấu, các cơ sở công nghiệp Quốc phòng. Kiểm soát môi trường không khí 24/24 tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng ,Cần Thơ...

[7] Nhà máy xi măng Thăng Long Hạ Long, Cẩm Phả, Hà Tiên II, Công ty 128 Hải quân, Nhà máy A31 Quân chủng PKKQ, Nhà máy 175 TCCNCP; khu đô thị Tứ Hiệp, khu công nghiệp Đình Trám.....

[8] Điển hình là vụ thất thoát nguồn phóng xạ trong sản xuất công nghiệp tại phường Bạch Đằng (Hà Nội) tháng 8 năm 2006, BĐHH cùng các lực lượng điều tra, thu hồi, tẩy xạ trên 10 tấn vật liệu nghi nhiễm xạ và kiểm tra 255 người, góp phần ổn định đời sống nhân dân địa phương.

Vụ ở Thừa Thiên - Huế năm 2007, có 57 người bị phồng rộp, phải đưa cấp cứu, dẫn tới sự hoảng loạn trên diện rộng. Theo yêu cầu của Thủ tướng và chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Binh chủng Hoá học đã phân tích, kết luận được nguyên nhân gây hại và hướng dẫn địa phương quy trình xử lý, giúp địa phương ổn định tình hình.

[9] Điển hình là các đề tài khoa học nghệ thuật quân sự: Nghệ thuật sử dụng Binh chủng Hoá học trong chiến tranh Bảo vệ Tổ quốc; Sử dụng Binh chủng Hoá học trong chống bạo loạn lật đổ; Nghiên cứu tỏ chức, hoạt động của lực lượng hóa học chống khủng bố; Tổ chức bảo đảm Phòng hóa trong chiển tranh Bảo vệ Tổ quốc; Công tác Tư tưởng-Văn hoá đối với Binh chủng Hoá học làm nhiệm vụ khắc phục sự cố hoá chất độc xạ trong giai đoạn hiện nay.

Các đề tài khoa học kỹ thuật quân sự có: Quy trình tổ chức xử lý sự cố môi trường do hoá chất độc xạ gây nên; Nghiên cứu quy trình xử lý chất độc CS tồn lưu sau chiến tranh; Nghiên cứu lựa chọn công nghệ khả thi để xử lý đất nhiễm dioxin trong điều kiện Việt Nam; Nghiên cứu quy trình công nghệ tiêu hủy thuốc bảo vệ thực vật quá hạn sử dụng; Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ chế tạo đạn phóng lựu M79c; nghiên cứu hoàn thiện công nghệ chế tạo dàn phóng E8 trang bị cho lực lượng làm nhiệm vụ A2 và phòng chống khủng bố; Nghiên cứu chế tạo khí tài H03 trang bị cho phân đội Hóa học chuyên trách làm nhiệm vụ chống khủng bố; Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ chế tạo hộp lọc hấp phụ trang bị cho xe tăng, xe thiết giáp và xe đặc chủng...

[10]Binh chủng đã có hơn 500 sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị thực tiễn cao, được nhân rộng phục vụ huấn luyện, SSCĐ và bảo đảm trang bị kỹ thuật cho toàn quân. Tiêu biểu như cải tiến hiện đại hoá trang bị Xe hóa-xạ nghiệm AL4MC, xe tiêu tẩy DA1, xe trinh sát PX-HH bọc thép DM-2PH, hòm hóa nghiệm dã chiến HN- 01

[11] Sản xuất mặt nạ phòng độc MV5, sản xuất 5 loại ống trinh độc, bộ phòng da Polyme 5 lớp, mặt nạ phòng độc cách ly, sản xuất than hoạt tính tẩm xúc tác (TX-05), Bao tiêu độc cá nhân TCN-10; sản xuất hàng chục vạn đơn vị đạn, lựu đạn khói, giàn phóng các loại sử dụng trong nhiều điều kiện địa hình, thời tiết trang bị chính thức cho các lực lượng của quân đội và công an làm nhiệm vụ A2; thiết kế, chế tạo thiết bị H03 kịp thời trang bị cho các phân đội hóa học chống khủng bố.


Chia sẻ:

Để lại bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *