Trang thông tin điện tử Binh chủng Hóa học

collapse
...
Trang chủ / Tin bài tổng hợp / Công tác phòng hóa trên tuyến đường trường sơn

Công tác phòng hóa trên tuyến đường trường sơn

15/05/2019  Hoàng Xuân Dũng 780 lượt xem
Đường Trường Sơn - con đường mang tên Bác “là một chiến công chói lọi của dân tộc ta; là con đường của ý chí quyết thắng, của lòng dũng cảm, của khí phách anh hùng. Đó là con đường Nam - Bắc, thống nhất nước nhà, là con đường tương lai giàu có của Tổ quốc ta. Đó cũng là con đường đoàn kết của các dân tộc, của ba nước Đông Dương…” . Những chiến công vĩ đại mà cán bộ, chiến sỹ, thanh niên xung phong

Trong chiến tranh Việt Nam, giới quân sự Mỹ cho rằng: Lương thực là một mục tiêu tiến công của chất độc... Cuộc chiến tranh phá hủy lương thực còn giữ một vai trò trọng yếu trong bất cứ một cuộc chiến tranh tương lai nào nếu chiến tranh đó còn kéo dài về thời gian... Tướng M. Tay-lo, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ nói rằng: Muốn diệt cơ sở Việt cộng phải lùng diệt du kích. Rừng là căn cứ du kích, phá rừng để du kích phải bật ra khỏi rừng... Chính vì vậy, trên tuyến đường Trường Sơn, ngoài việc sử dụng không quân đánh phá, quân đội Mỹ còn sử dụng chất độc diệt cây cùng một số loại chất độc khác rải xuống nhiều vùng rừng trên đường Trường Sơn làm trụi lá cây; các dự án tạo mưa và các chất hóa học tạo bùn để phá đường. Giới quân sự Mỹ tính toán rằng: Việc tăng cường sử dụng chất độc diệt cây, chất độc quân sự, chất cháy kết hợp với các loại vũ khí hiện đại khác, có thể triệt phá hoàn toàn nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ; chặn đứng sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, từ vùng này qua vùng khác; lùa được dân vào ấp chiến lược, các lực lượng vũ trang của đối phương sẽ bị cạn nguồn tiếp tế không thể hoạt động tập trung và sẽ tàn lụi dần.

Từ năm 1959 đến năm 1964, cùng với việc tung biệt kích lùng sục, hành quân càn quét và dùng máy bay đánh phá, quân Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hòa đã dùng máy bay phun rải chất độc diệt cây, bom napan đốt phá rừng trên những địa bàn giáp ranh với miền Bắc, nhất là khu vực Đường 9 - Khe Sanh... Trên các trọng điểm đường Trường Sơn, địch tăng cường đánh phá bằng nhiều loại bom, đạn, chất độc hóa học, chất cháy và thường xuyên dùng máy bay B.52 ném bom rải thảm...

Để chủ động phòng chống địch sử dụng chất độc hóa học trên đường Trường Sơn; từ năm 1962 đến đầu năm 1965, nhiều đoàn cán bộ hóa học đã được điều động vào đường Trường Sơn nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn, vũ khí trang bị, phương tiện hóa học của địch để tìm biện pháp đối phó. Ngày 9 tháng 4 năm 1963, Bộ Tổng Tham mưu thành lập Tiểu ban nghiên cứu phòng chống hóa học. Tiểu ban đã nghiên cứu tình hình địch sử dụng chất độc hóa học ở các trọng điểm trên chiến trường Khu 5, Tây Nguyên và đường Trường Sơn; hướng dẫn bộ đội, dân quân, du kích và nhân dân thực hiện các biện pháp phòng chống. Sau chuyến đi, Tiểu ban đã báo cáo với Bộ về các loại chất độc, phương tiện, thủ đoạn sử dụng của địch, khả năng bảo đảm trang bị, khí tài phòng hóa tại chỗ và đề xuất các biện pháp phòng chống; phương án tổ chức xây dựng lực lượng hóa học nòng cốt.

Từ năm 1965, khi Nhà Trắng và Lầu Năm Góc thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, việc ngăn chặn hệ thống đường Trường Sơn đã trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của Mỹ, là nơi Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hòa thử nghiệm hàng loạt các chủ trương chiến lược và thủ đoạn chiến thuật, đồng thời cũng là chiến trường thử nghiệm các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại, kể cả vũ khí hóa học và vũ khí thời tiết. Từ cuối năm 1965 đầu năm 1966, không quân Mỹ tập trung đánh phá ác liệt vào tuyến đường Trường Sơn bằng bom đạn thường kết hợp với chất độc hóa học, dùng bom napan đốt cháy nhiều diện tích rừng Trường Sơn; sử dụng chất độc diệt cây phát quang dọc hai bên đường suốt chiều dài hàng ngàn kilômét, gây nhiều khó khăn cho ta.

Trước tình hình đó, cuối năm 1965, Bộ Quốc phòng quyết định điều một lực lượng hóa học vào Trường Sơn làm nhiệm vụ bảo đảm phòng hóa cho các lực lượng hoạt động tuyến. Đoàn cán bộ, chiến sỹ hóa học vào chiến trường được tổ chức thành hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất là đại đội hỗn hợp (phiên hiệu Đại đội 20), gồm 1 phân đội xe trinh sát bọc thép, 1 phân đội tiêu độc mặt đất và bộ phận hóa nghiệm, quân số 70 người, trang bị 4 xe trinh sát bọc thép, 4 xe tiêu độc 12D, 4 xe tiêu độc binh khí ADM-48, 4 xe BTR-40, 3 xe trinh sát GAT-69, 1 xe hóa nghiệm và 1 xe vận tải. Bộ phận thứ hai là những cán bộ của Phòng Hóa học - Nguyên tử gồm 7 đồng chí là những cán bộ tham mưu, kỹ thuật và nghiên cứu. Sau khi nhận bàn giao xong, do yêu cầu nhiệm vụ, lực lượng hóa học được chia thành 4 trung đội gồm 1 trung đội tiêu độc, 3 trung đội trinh sát để tăng cường cho các tuyến. Cụ thể:

Trung đội trinh sát 1 làm nhiệm vụ ở tuyến II từ K1 vượt đường 9 qua sông Sê Băng Hiêng vào Mường Noòng tới sông Bạc, bộ phận xe trinh sát hóa học được bố trí ở các ngầm trọng điểm làm nhiệm vụ trinh sát hóa học.

Trung đội trinh sát 2 làm nhiệm vụ ở tuyến III đoạn từ sông Bạc quan ngã ba Chà Vằn đến Tà Xẻng, có nhiệm vụ làm nòng cốt khắc phục hậu quả địch phun rải chất độc và nghiên cứu các loại hóa chất độc Mỹ sử dụng; tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các lực lượng trên tuyến cách phòng chống, khắc phục hậu quả địch tập kích chất độc.

Trung đội trinh sát 3 và trung đội tiêu độc cùng bộ phận cán bộ làm nhiệm vụ bảo đảm cho tuyến I và cơ quan Bộ Tư lệnh 559.

Sau một thời gian hoạt động trên các trọng điểm, đoàn cán bộ hóa học kết luận: Do địa hình trên đường Trường Sơn hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, khi địch tập kích chất độc dễ đọng tụ lâu, thời gian nhiễm độc kéo dài, gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động vận chuyển của ta; trong khi đó, nhiệm vụ và tổ chức tuyến vận tải chiến lược ngày càng phát triển đặt ra yêu cầu lớn đối với công tác bảo đảm phòng hóa. Cùng một lúc, Bộ đội Hóa học phải bảo đảm cho nhiều lực lượng hoạt động trực tiếp trên các tuyến đường. Vì vậy, để bảo đảm cho các lực lượng trên tuyến, Bộ đội Hóa học phải kịp thời thông báo, báo động, hướng dẫn, giúp đỡ các lực lượng trên đường hành quân, phòng chống tốt, bảo đảm an toàn sức người, sức của cho tiền tuyến.

Đầu năm 1966, địch đẩy mạnh phun rải chất độc hóa học xuống các tuyến đường hành lang và hai bờ sông Sê Kông; dọc sông Sê Ca Mán, sông Sê Sụ, dọc bờ nam sông Xê La Nông; các khu vực Bản Đông, dốc Thơm. Các đường ô tô đều bị địch rải chất độc hóa học sâu vào hai bên đường 200 - 300m. Từ tháng 2 đến cuối tháng 3 năm 1966, các đường dọc và một số đường ngang B45, B46 bị địch phun rải chất độc hóa học sâu vào hai bên đường đến 400 - 500m; các đoạn ngã ba Sa Đi, Mường Noòng, nam Rừng Thông, Bản Bạc đến Chà Vằn vào sâu đến 2 - 3km. Các trạm giao liên 11, 13, 14, 15A, các khu vực kho tàng và trú quân như T31, 9B, d10 vận tải tuyến II cũng bị địch phun rải chất độc hóa học. Tháng 4 năm 1966, địch tập trung phun rải chất độc hóa học xuống đường 20 đoạn Lùm Bùm đi Phong Nha. Từ cuối tháng 12 năm 1966 trở đi, không quân Mỹ tăng cường đánh phá liên tục suốt ngày đêm và phun rải chất độc hóa học trên toàn tuyến; nhất là các trọng điểm Pha Nốp, Xiêng Phan, Pác Pha Năng, Xóm Péng, cua Chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích, Văng Mu, Thà Khống, Dốc Thơm, đường 128 và phà Tha Mé, khu vực Phi Hà, dốc 200 (đường C4), Tha Pa Chôn, Lùm Bùm, Bản Bạc. Chất độc hóa học đã làm trụi cây cối hai bên đường sâu  đến 1 - 2km. Từ tháng 02 đến cuối tháng 5 năm 1967, chúng dùng máy bay B.52 ném bom mỗi đêm từ 2 - 3 đợt kết hợp với phun rải chất độc hóa học xuống con đường mới của ta vươn tới A Túc. Phun rải chất độc dọc theo sông Sê Băng Hiêng đoạn từ Tà Rúa - Xe Rìa, Cô Bai, Se Pu đến Xa Lỳ dài 6km sâu vào hai bên bờ sông 1 - 2km. Phun rải chất độc nhiều lần xuống khu vực Be Lao, Cù Dinh, Nguồn Rào, động Voi Mẹp, Đường 15, Đường 75. Thời gian phun rải chất độc thường từ 8 - 9 giờ sáng và 16 - 18 giờ chiều, có thể phun rải nhiều lần xuống một khu vực. Có khu vực, địch kết hợp phun rải chất độc hóa học với ném bom phát quang để cắt đổ cây cối, khi cây cối héo, khô thì ném bom napan xuống thiêu trụi. Trong 2 năm 1966 - 1967, địch phun rải chất độc hóa học phát quang hàng nghìn kilômét đường và nhiều khu vực kho tàng, bãi giấu xe, trận địa cao xạ của ta dọc tuyến đường Trường Sơn. Ngoài việc làm trụi lá cây, phá hủy các khu rừng rậm trên mặt đất, làm thay đổi môi trường sinh thái; chất độc diệt cây còn chứa loại tạp chất dioxin là một tác nhân siêu độc, gây tác hại và di chứng lâu dài đối với con người.

Trong giai đoạn 1966 - 1968, quân Mỹ còn tích cực sử dụng chất độc CS ở thể bột và thể khói với nồng độ chiến đấu và nồng độ nhiễm độc địa hình từ 1 đến 10kg/hec-ta để đánh vào các khu vực đèo, ngầm, đường độc đạo, kho tàng, bến bãi, trận địa cao xạ, nơi trú quân của ta. Thủ đoạn của chúng là: Khi phát hiện đội hình xe cơ động, chúng sử dụng bom, hỏa tiễn, bom cháy chặn đầu, khóa đuôi, dùng súng máy gắn trên máy bay AC-130 bắn phá. Khi bộ đội ta nhảy xuống xe ẩn nấp, chúng ném bom bi, mìn vướng nổ, bom từ trường và chất độc CS... sát thương, ngăn chặn, không cho ta khắc phục hậu quả. Để khống chế các trọng điểm giao thông, địch dùng máy bay ném các thùng phuy chứa chất độc CS kết hợp với bom phá, bom bi, bom nổ chậm, bom từ trường… khi thùng phuy nổ, làm tung bột chất độc CS ra mặt đất, đồng thời sử dụng bom phá làm cho chất độc CS trộn lẫn với đất làm nhiễm độc địa hình, gây khó khăn cho bộ đội ta cơ động cũng như khắc phục hậu quả; nhiều trọng điểm giao thông, chất độc CS dày đặc trên mặt đường, không thể đến gần hoặc đi qua nếu không có khí tài phòng hóa. Khi phát hiện kho tàng, trận địa cao xạ, hỏa lực, trận địa chốt, căn cứ của ta, địch tập kích bom, đạn pháo, đạn chứa chất độc CS. Các mục tiêu phải đánh chiếm thì sử dụng chất độc CS ở dạng khói độc, những mục tiêu không phải đánh chiếm thì sử dụng chất độc CS ở dạng bột. Ngoài ra, trong các lần cứu phi công, địch sử dụng chất độc CS nhằm kiềm chế các trận địa phòng không, chặn đường lực lượng ta truy tìm; các toán biệt kích, thám báo cũng thường xuyên sử dụng chất độc CS để đánh phá vào kho tàng, hậu cứ hoặc khi bị ta truy kích…

Bên cạnh việc sử dụng chất độc hóa học, quân đội Mỹ còn sử dụng hóa chất gây mưa. Đầu tháng 9 năm 1966, không quân Mỹ đã tiến hành khoảng 50 phi vụ thí điểm rải hóa chất gây mưa dọc theo khu vực sông Sê Kông. Các thử nghiệm ban đầu có đến 85% những đám mây được rải hóa chất đã gây mưa, lượng mưa trung bình tăng thêm 30%, mùa mưa có thể kéo dài thêm từ 30 đến 45 ngày so với trước. Từ tháng 3 năm 1967 không quân Mỹ đã thực hiện 2.600 phi vụ rải hóa chất gây mưa nhằm làm trầm trọng hơn mùa mưa tại các khu vực đường Trường Sơn, gây khó khăn cho các hoạt động tiếp tế hàng hóa của ta.

Trong thời gian này, Binh chủng Hóa học tiếp tục cử đoàn cán bộ vào nghiên cứu tình hình địch sử dụng chất độc hóa học ở các trọng điểm giao thông, kho tàng, bến bãi, các trạm giao liên, trận địa cao xạ... như Lằng Khằng, đèo Mụ Giạ, Xiêng Phan, cua Chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích, Lùm Bùm, Văng Mu, Thà Không, Dốc Thơm... Qua nghiên cứu, Đoàn cán bộ hóa học đã rút ra những kết luận về thủ đoạn sử dụng chất độc hóa học của địch, đề xuất với Bộ Tư lệnh 559 một số biện pháp phòng chống. Sau đợt khảo sát, nghiên cứu, Cục Hóa học đã tập trung chỉ đạo công tác phòng hóa trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn liên tục, kịp thời hơn. Với phương châm công tác phòng hóa phải do các lực lượng tự đảm nhiệm là chính, Bộ đội Hóa học làm nòng cốt; cán bộ, chiến sỹ hóa học đã tỏa đi khắp các trọng điểm, các cung đường, các binh trạm cung cấp tài liệu huấn luyện phòng hóa, phổ biến những kiến thức cơ bản về chất độc và cách phòng chống; nghiên cứu cải tiến và hướng dẫn sản xuất hàng vạn khí tài phòng độc thô sơ, gọn, nhẹ cung cấp cho các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong trên tuyến đường. Chỉ đạo các đơn vị huấn luyện đầy đủ nội dung phòng hóa và trang bị đủ mặt nạ phòng độc, bao tiêu độc cá nhân, mảnh sunfát đồng cho bộ đội trước khi đi chiến trường.

Ngày 21 tháng 7 năm 1966, Cục Hóa học báo cáo với Bộ Quốc phòng Đề án bảo đảm phòng hóa cho đường Trường Sơn là: Với đặc điểm đóng quân rải rác dọc theo tuyến đường dài hàng nghìn kilômét trên dãy Trường Sơn hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, lại thường xuyên bị địch đánh phá ác liệt; việc sử dụng lực lượng hóa học cơ động đi khắc phục hậu quả chất độc hóa học và vận chuyển trang bị phòng hóa từ miền Bắc vào là rất khó khăn. Do vậy, phương án phòng chống tốt nhất là tổ chức lực lượng hóa học tại chỗ, phương tiện tại chỗ. Cục Hóa học đề nghị Bộ Tư lệnh 559 nhanh chóng kiện toàn hệ thống lực lượng hóa học từ Bộ Tư lệnh đến binh trạm, các trọng điểm, các đơn vị quan trọng. Tổ chức huấn luyện đầy đủ nội dung, chương trình phòng hóa cho các đối tượng; trong đó bồi dưỡng thêm cho số y sĩ, y tá nội dung cấp cứu, điều trị cho người bị nhiễm độc. Trang bị mặt nạ chế sẵn hoặc ứng dụng, 100% quân số được trang bị bao tiêu độc cá nhân; bảo đảm chất tiêu độc 3/2 cho các đơn vị xe, pháo; tổ chức bắn máy bay phun rải chất độc, làm công sự phòng hóa ứng dụng và che phòng cho các nguồn nước, lương thực thực phẩm...

Tháng 12 năm 1969, Cục Hóa học tiếp tục điều động 16 cán bộ, 12 hạ sỹ quan, chiến sỹ, 02 hóa nghiệm viên cùng các trang bị, khí tài chuyên môn đi tăng cường cho Bộ Tư lệnh 559; có nhiệm vụ giúp đỡ các binh trạm huấn luyện phòng hóa và hướng dẫn các đơn vị khắc phục hậu quả khi địch sử dụng chất độc hóa học; thường xuyên nắm tình hình địch sử dụng chất độc hóa học, các mặt công tác phòng hóa của Bộ Tư lệnh 559 báo cáo về Bộ hằng tháng.

Bên cạnh việc huấn luyện, hướng dẫn và trang bị khí tài phòng hóa cho các lực lượng trên đường Trường Sơn, Bộ đội Hóa học đã tham mưu cho Bộ Tư lệnh 559 khẩn trương xây dựng, phát triển lực lượng hóa học; tháng 01 năm 1966, lực lượng hóa học thuộc Bộ Tư lệnh 559 được kiện toàn một bước, ở Cơ quan Bộ Tư lệnh có 2 trợ lý hóa học, ở các tuyến đều có trợ lý hóa học. Bảo đảm cho Cơ quan Bộ Tư lệnh và tuyến I có 1 trung đội trinh sát hóa học, 1 trung đội tiêu độc; tuyến II có 1 trung đội trinh sát hóa học xe; tuyến III có 1 trung đội trinh sát bộ.

Cán bộ của Binh chủng Hóa học cùng với số cán bộ hóa học của Bộ Tư lệnh 559 tiến hành xây dựng nội dung, chương trình huấn luyện, biên soạn tài liệu phòng hóa. Tranh thủ mùa mưa, địch giảm đánh phá, tổ chức tập huấn cán bộ, huấn luyện phòng hóa cho bộ đội, thanh niên xung phong về quy luật sử dụng chất độc hóa học của địch, kinh nghiệm và các biện pháp đề phòng, cứu chữa giản đơn. Trên truyến I, các tiểu đoàn vận tải, tiểu đoàn công binh 23, 25, 27, tiểu đoàn cao xạ 14, 16, 18, các đại đội súng máy phòng không, các binh trạm… đều được huấn luyện các biện pháp phòng hóa, khắc phục địa hình, vũ khí trang bị kỹ thuật bị nhiễm chất độc. Giúp các đơn vị xây dựng kế hoạch phòng hóa, tổ chức mạng lưới các tổ phòng hóa tại chỗ trong tất cả các đơn vị, các trạm giao liên, các kho hàng, các đơn vị vận tải, các đơn vị công binh, cao xạ, các đội thanh niên xung phong. Đồng thời, cán bộ, chiến sỹ hóa học còn đến tận các bản làng ven tuyến đường hướng dẫn nhân dân Việt Nam, Lào về cách khắc phục hậu quả khi bị địch phun rải chất độc diệt cây. Ngoài ra, ngày 15 tháng 5 năm 1966, khi tham gia truy lùng phi công ở km15 đường 20 ngầm Ta Lê đi Lùm Bùm, Đại đội hóa học 20 đã thu được tấm bản đồ kế hoạch đánh phá tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn; nhờ đó giúp cho ta có phương án ứng phó kịp thời, phá vỡ âm mưu của không quân Mỹ, trong đó có cả âm mưu "Tăng cường sử dụng chất độc hóa học". Chiến công này được Bộ Tư lệnh 559 gửi điện biểu dương và đề nghị Bộ Quốc phòng tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Thực hiện chiến thuật "quét và giữ", quân Mỹ tăng cường sử dụng máy bay chiến thuật, máy bay B-52 đánh phá liên tục các kho hàng, bến cảng và các đầu mối giao thông quan trọng, nhằm cắt đứt tuyến chi viện chiến lược của ta. Các cửa khẩu Xiêng Phan đường 128, các trọng điểm cua Chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích đường 20 bị máy bay ném bom rải thảm liên tục trong nhiều ngày đêm. Hầu hết các trọng điểm giao thông quan trọng đều bị địch dùng chất độc CS khống chế, ngăn chặn. Trước tình thế đó, đầu năm 1970, Cục Hóa học tiếp tục điều động một đoàn cán bộ vào đường Trường Sơn giúp Bộ Tư lệnh 559 tổ chức tổ chức tập huấn, huấn luyện phòng hóa cho gần 1,5 vạn lượt cán bộ, chiến sỹ, thanh niên xung phong; hướng dẫn cho lực lượng bộ binh, công binh, vận tải, cao xạ... biết cách làm và thả khói ngụy trang nghi binh thu hút bom đạn của địch. Sau khi được huấn luyện, bộ đội, thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn đã thực hiện nhiều biện pháp hiệu quả phòng chống chất độc hóa học cho bản thân mình, đơn vị mình. Bộ đội tự may khẩu trang phòng hóa, chuẩn bị bi đông nước tiêu độc cá nhân và thùng nước phòng hóa, che đậy giếng nước sinh hoạt, lương thực, thực phẩm; các đài quan sát kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ quan sát hóa học. Lực lượng bảo vệ kho tàng, bến bãi, nơi trú quân, bãi giấu xe, trọng điểm giao thông, trạm giao liên đã làm các hầm phòng độc ứng dụng. Chỉ riêng trong năm 1969, bộ đội đã xây dựng hàng vạn hầm trú ẩn có nắp và hàng trăm kilômét giao thông hào trên dọc tuyến đường. Khi phát hiện địch tập kích chất độc hóa học, bộ đội nhanh chóng đeo mặt nạ hoặc dùng túi nilông, khăn mặt, khẩu trang, áo lót... bịt kín mũi, miệng. Khi khắc phục hậu quả địch sử dụng chất độc CS ở dạng bột, bộ đội, thanh niên xung phong đeo mặt trùm thô sơ, buộc túm ống quần, ống tay áo hoặc cuốn nilông quanh người vào xúc hót, gạt chôn lấp chất độc vào một chỗ. Khi bị chất độc CS dính vào người đã nhanh chóng tắm rửa bằng nước sạch, nước xà phòng, nước tro bếp... Trên các trọng điểm giao thông bị địch rải chất độc dày đặc, không thể qua lại, bộ đội tổ chức làm đường vòng tránh trên đầu hướng gió; từ tháng 11 năm 1969, bộ đội đã xây dựng tại các trọng điểm từ 2 đến 4 đường vòng tránh. Các điểm vượt sông Pác Pha Năng, Ta Lê, Sê Băng Phai, Sê Băng Hiêng, Sê Pôn, Sê Lê Măng, Sê Công, Sê Ca Mán... đều có ba phương án vượt ngầm, cầu trệt và phà; có điểm vượt chính, vượt dự bị và điểm vượt nghi binh...

Việc bảo đảm, cấp phát trang bị khí tài phòng hô hấp cũng được nghiên cứu và thực hiện phù hợp với tính chất hoạt động đặc thù của từng đơn vị trên tuyến. Mặt nạ phòng độc KT-69 (không có chi tiết bằng sắt) trang bị cho lực lượng hoạt động ở các khu vực có bom từ trường; mặt nạ M0-4 cải tiến trang bị cho lực lượng hoạt động ở những nơi có nồng độ chất độc cao, thời gian hoạt động trong khu độc dài như các đơn vị pháo, kho, lái xe và cơ quan chỉ huy; thu nhặt khí tài phòng hóa của thương binh, liệt sỹ để lại ở các trạm giao liên và thu khí tài phòng hóa của địch để sử dụng. Để khắc phục tình trạng thiếu trang bị phòng hóa chế sẵn, cán bộ, chiến sỹ hóa học hướng dẫn bộ đội làm khí tài phòng hóa thô sơ, ứng dụng bằng những vật liệu sẵn có trên địa bàn hoặc dùng những vật dụng sinh hoạt hằng ngày của cá nhân để phòng chống chất độc. Nhiều chiến sỹ lái xe đã đã dùng vật liệu sẵn có để khắc phục chất độc, lái xe an toàn; nhiều đơn vị thanh niên xung phong đã dùng khăn mặt, khẩu trang để phòng độc, hoạt động nhiều giờ trong khu nhiễm để mạch máu giao thông nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam luôn thông suốt.

Để chống lại việc địch phá hoại hoa màu, bộ đội, thanh niên xung phong tại các binh trạm và nhân dân sinh sống ven tuyến đường được hướng dẫn gieo trồng xen canh gối vụ, chặt cành, tỉa lá khi bị phun rải chất độc. Các ruộng lúa bị nhiễm chất độc, nếu có nước thì tháo nước ra, nếu cạn thì cho nước vào đầy, rửa cây rồi tháo nước. Mặt đất bị nhiễm thì lấy nước tưới rửa, xới đất lên, để 10 - 15 ngày sau mới trồng trọt. Các loại lương thực, thực phẩm đều được để trong các thùng, chum vại, hộp bịt kín, hoặc cho xuống hầm kín. Nước ăn thường trữ trong chum vại, lọ đậy kín đề phòng chất độc rơi vào nguồn nước. Nhiều bản, làng tổ chức tổ canh gác báo động và bắn máy bay phun rải chất độc.

Suốt 16 năm (1959 - 1975) hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn, Bộ đội Hóa học đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, dũng cảm, kiên cường, chống trả cuộc chiến tranh hóa học tàn khốc của kẻ thù. Phương châm công tác phòng hóa phải do quần chúng tự đảm nhiệm là chính, Bộ đội hóa học làm nòng cốt; kết hợp giữa cơ động với tại chỗ; kết hợp giữa khí tài trang bị hiện đại với khí tài thô sơ ứng dụng được khẳng định là đúng đắn và phù hợp với thực tiễn chiến trường, bảo đảm cho các lực lượng  trên tuyến đường hoạt động thường xuyên, liên tục, hạn chế thương vong, tổn thất do chất độc hóa học gây ra. Công tác phòng hóa trên đường Trường Sơn đã khẳng định vai trò nòng cốt của Bộ đội Hóa học, được biểu hiện tập trung ở việc chỉ đạo, xây dựng, phát triển lực lượng hóa học trong 3 thứ quân; tổ chức bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật hóa học trên các địa bàn trọng điểm; xây dựng phong trào phòng hóa rộng rãi trong tất cả các đơn vị trên tuyến, các bản làng ven hai bên đường; lực lượng hóa học chuyên môn đã bám sát chiến trường, bám sát các trọng điểm nghiên cứu các loại vũ khí hóa học, các thủ đoạn tập kích của địch để chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các biện pháp phòng chống kịp thời, hiệu quả; góp phần bảo toàn và khôi phục hoạt động của các lực lượng làm nhiệm vụ trên tuyến đường Trường Sơn.

Thực tiễn công tác phòng hóa trên tuyến đường Trường Sơn, Binh chủng đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm. Đó là bài học về nghệ thuật xây dựng lực lượng phòng hóa quần chúng rộng rãi trong ba thứ quân, Bộ đội Hóa học làm nòng cốt; về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng bảo đảm phòng hóa trên địa bàn rộng, phạm vi lớn, cho nhiều lực lượng trong điều kiện địch đánh phá thường xuyên, liên tục với nhiều thủ đoạn, nhiều loại vũ khí, phương tiện hiện đại; về kết hợp chặt chẽ giữa khí tài phòng hóa hiện đại, chế sẵn với khí tài phòng hóa thô sơ, ứng dụng; về kết hợp các yếu tố cơ động với tại chỗ... Đó là những kinh nghiệm có giá trị bổ sung và làm phong phú thêm lý luận về xây dựng tiềm lực phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, bảo đảm phòng hóa cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.


Chia sẻ:

Để lại bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *