
Đường 9 - Khe Sanh là địa bàn chiến lược quan trọng, là trung tâm chỉ huy của hàng rào điện tử McNamara mà Mỹ xây dựng nhằm cắt đứt đường Hồ Chí Minh, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam; từ cuối năm 1967, trên Đường số 9 địch bố trí ba trung đoàn thuỷ quân lục chiến, chín tiểu đoàn pháo binh, ba tiểu đoàn và một đại đội cơ giới, quân số 45.000 tên, trong đó có 28.000 quân Mỹ với hệ thống công sự kiên cố, liên hoàn. Bộ binh địch được trang bị mặt nạ phòng độc M17, lựu đạn CS, súng phóng lựu M79 và máy phóng E8 bắn đạn CS; các loại pháo, cối đều được trang bị đạn chứa chất độc CS. Xung quanh các cứ điểm, cụm cứ điểm chúng bố trí mìn hóa học, mìn cháy; ngoài ra chúng còn được máy bay, pháo binh tập kích bom đạn hóa học, bom cháy. Từ năm 1965 đến cuối năm 1967 địch đã dùng máy bay C123 phun rải nhiều lần chất độc diệt cây xuống các khu vực nghi ta trú quân ở dọc biên giới Việt - Lào, phát quang tạo vành đai trắng xung quanh các cứ điểm, cụm cứ điểm và những vị trí quan trọng dọc theo các trục đường số 9, đường 75.
Về phía ta, chấp hành Nghị quyết của Bộ chính trị tháng 12 năm 1967, ta chủ trương mở Chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng ở mặt trận Đường 9 -Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược của địch (chủ yếu là Mỹ), góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho toàn Miền thực hiện đòn tiến công chiến lược Tết Mậu Thân 1968.
Trên cơ sở đánh giá khả năng địch sử dụng chất độc hóa học và quy mô của Chiến dịch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao nhiệm vụ cho lực lượng hóa học: Tổ chức bảo đảm phòng hóa cho các lực lượng tham gia Chiến dịch bao gồm huấn luyện, cấp phát trang bị, khắc phục hậu quả địch tập kích chất độc hóa học, vũ khí cháy. Tổ chức quan sát, trinh sát, thông báo, báo động kịp thời cho bộ đội phòng chống và khắc phục. Tổ chức nghi binh bảo đảm cho trận địa hỏa lực và các lực lượng tham gia chiến đấu. Sử dụng vũ khí lửa tham gia chiến đấu tiêu diệt địch.
Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, từ tháng 10 năm 1967, Cục Hóa học tăng cường chín cán bộ, cùng với ba cán bộ của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5) hình thành Phòng Hóa học Chiến dịch do đồng chí Đào Xuân Hoàng làm Trưởng phòng. Do đặc điểm tác chiến Chiến dịch quy mô lớn theo hai hướng (Đông và Tây), nên Phòng Hóa học Chiến dịch được tổ chức làm hai bộ phận: Bộ phận cánh Đông và bộ phận cánh Tây. Lực lượng hóa học Chiến dịch gồm có Đại đội PH91 thuộc Tiểu đoàn 902 - Cục Hóa học (gồm 2 trung đội phòng hóa, 01 trung đội lửa); Đại đội PH62 thuộc Mặt trận B5. Cấp sư đoàn có Ban Hóa học và 1 trung đội phòng hóa, quân số 32 đồng chí. Cấp trung đoàn có một trợ lý hóa học và một tiểu đội phòng hóa quân số 10 đồng chí. Ngoài ra, từ cấp đại đội trở lên đều tổ chức các tổ hóa học kiêm nhiệm quân số từ ba đến bốn đồng chí.
Ngay sau khi được thành lập, Phòng Hóa học khẩn trương triển khai kế hoạch phòng hóa chiến dịch. Cán bộ Phòng Hóa học trực tiếp xuống các đơn vị phổ biến nhận định của Bộ Tư lệnh Chiến dịch về khả năng địch sử dụng chất độc hóa học; các mục tiêu địch có thể tập kích chất độc, chất cháy… và thống nhất các biện pháp đề phòng, khắc phục hậu quả. Ban Hóa học các sư đoàn soạn thảo tờ rơi phổ biến kiến thức phòng hóa phát đến từng cán bộ, chiến sỹ; tổ chức huấn luyện bổ sung, hướng dẫn cách che phòng cho công sự, kho tàng, nguồn nước; cách làm, cách sử dụng các loại khí tài phòng hóa ứng dụng…
Về bảo đảm khí tài phòng hóa trước chiến dịch, Kho K61 - Cục Hóa học đã vận chuyển trang bị tập kết tại các kho tiền phương ở Quảng Trị để cấp phát cho các sư đoàn BB304, 320 và Sở chỉ huy Chiến dịch. Tháng 12 năm 1967, Kho K61 tiếp tục vận chuyển trên 10.000 mặt nạ, 1.000 hộp khói cỡ nhỏ, 1.000 kg chất tiêu độc các loại cung cấp cho chiến dịch. Lực lượng hóa học chuyên môn thiết lập hệ thống đài quan sát hóa học bảo đảm cho các đơn vị trong quá trình tổ chức chuẩn bị chiến dịch. Đồng thời, phối hợp với lực lượng công binh, cao xạ, bộ đội địa phương làm giả các trận địa hỏa lực, kho tàng, khu vực trú quân, bến vượt... để nghi binh. Lực lượng súng phun lửa được tăng cường cho các đại đội bộ binh, đặc công ngay từ đầu chiến dịch.
Như vậy, trước khi mở màn chiến dịch, với vai trò làm nòng cốt trong công tác bảo đảm phòng hóa, Bộ đội Hóa học đã tổ chức, xây dựng lực lượng phòng hóa thành hệ thống hoàn chỉnh, có lực lượng hóa học chuyên môn, kiêm nhiệm và phòng hóa quần chúng rộng rãi, đủ khả năng đề phòng, khắc phục hậu quả khi địch tập kích chất độc hóa học trong chiến đấu. Các Sư đoàn BB304, 320, 324 và Sở chỉ huy Chiến dịch được trang bị 100% mặt nạ; các đơn vị còn lại được trang bị 50%.
Diễn biến công tác bảo đảm phòng hóa Chiến dịch chia làm 4 đợt:
Đợt 1 (20.01 - 07.02.1968) bảo đảm phòng hóa tiến công tiêu diệt các cứ điểm phía Tây, mở thông đường số 9, đưa lực lượng vây hãm Tà Cơn. Đêm ngày 20 tháng 01 năm 1968, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 Sư đoàn BB304 nổ súng tiến công quận lỵ Hướng Hóa giành thắng lợi, địch không có thời cơ sử dụng chất độc hóa học. Tuy nhiên, sáng ngày 22 tháng 01 năm 1968 máy bay địch ném bom CS tạo ra màn khói độc dày đặc ở phía tây nam Cu Bốc, sau đó từng tốp trực thăng đổ xuống khu vực này khoảng 1 đại đội bảo an (khi nhảy từ máy bay xuống chúng vẫn đeo mặt nạ phòng độc). Do nắm được thủ đoạn địch dùng chất độc dọn bãi đổ bộ nên chỉ huy Trung đoàn 66 đã lệnh cho bộ đội đeo mặt nạ, lợi dụng màn khói tiến vào trận địa phục kích và tiêu diệt gọn lực lượng này.
Do ta chủ động tiến công một số vị trí quan trọng trong hệ thống cụm cứ điểm, kết hợp với vây hãm, các trận chiến đấu lại diễn ra bất ngờ vào ban đêm và nhanh chóng giành thắng lợi, nên địch ít có thời cơ sử dụng chất độc hóa học. Nhưng khi ta chuyển sang vây hãm Tà Cơn, địch sử dụng chất độc hóa học thường xuyên hơn nhằm chi viện cho lực lượng phản kích hoặc rút lui, hoặc sử dụng máy bay ném bom CS, thùng bột CS vào trận địa của ta. Khi ta tập trung lực lượng đánh mạnh vào Tà Cơn, địch sử dụng chất độc hóa học 25 lần, tập trung vào các ngày 26, 27, 28 tháng 01 và các ngày 4, 6, 7 tháng 02, các điểm cao 751, 622 có ngày địch tập kích chất độc CS từ 2 - 4 lần nhưng bộ đội đã phát hiện và kịp thời sử dụng khí tài đề phòng, bảo toàn lực lượng. Phòng Hóa học Chiến dịch thường xuyên cử cán bộ bám sát diễn biến tình hình, đề xuất biện pháp xử trí các tình huống địch tập kích chất độc hóa học, chỉ đạo bổ sung mặt nạ, ống chống khói độc, kịp thời phổ biến kinh nghiệm phòng hóa cho các đơn vị tham gia chiến đấu. Các đài quan sát phát hiện kịp thời nhiều vụ tập kích hóa học, thông báo cho chỉ huy để có biện pháp xử lý tốt, không để ảnh hưởng đến sức chiến đấu của bộ đội.
Lực lượng súng phun lửa tham gia nhiều trận chiến đấu đạt hiệu suất cao, lập công xuất sắc; điển hình trận tiến công cứ điểm Làng Vây (ngày 07 tháng 02 năm 1968), phân đội phun lửa phối thuộc cho Tiểu đoàn 3 Sư đoàn 325 tiêu diệt và bắt sống 46 tên địch, góp phần cùng các lực lượng diệt gọn một cứ điểm quan trọng án ngữ trên Đường 9, đẩy cụm cứ điểm Tà Cơn vào thế bị cô lập hoàn toàn. Lực lượng thả khói nguỵ trang, nghi binh thu hút 1.225 loạt bom, 8.325 loạt pháo, 79 loạt B52, 180 quả bom cháy, 130 loạt rốc két, 52 loạt tên lửa Bonpop, hàng nghìn đạn pháo, bắn bị thương một máy bay địch.
Đợt 2 (10.02 - 31.3.1968) bảo đảm phòng hóa vây hãm, vây lấn Tà Cơn. Bị uy hiếp mạnh ở Đường 9 - Khe Sanh và Thừa Thiên - Huế, đầu tháng 2 năm 1968, địch điều lực lượng chiếm giữa các điểm cao 550, 595 và 573 nhằm cố thủ và sử dụng hỏa lực không quân, pháo binh kết hợp sử dụng chất độc CS đánh phá các trận địa của ta. Ngày 18 tháng 2, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định từ vây hãm phát triển lên vây lấn Tà Cơn buộc địch phải tặng viện ứng cứu, giải tỏa. Sư đoàn 304 thực hành vây lấn hướng Nam cụm cứ điểm Tà Cơn, cắt giao thông đường 9; Sư đoàn 325 thực hành vây hãm hướng Bắc, Tây Bắc cụm cứ điểm Tà Cơn, kiềm chế địch ở điểm cao 845, 832 và Động Tri. Vận dụng những kinh nghiệm trong bảo đảm phòng hóa đợt 1 chiến dịch, cơ quan và cán bộ hóa học các cấp tỏa xuống từng đơn vị, từng chốt để phổ biến âm mưu, thủ đoạn sử dụng chất độc hóa học của địch, những kinh nghiệm phòng chống hóa học của ta; giúp các đơn vị tổ chức huấn luyện bổ sung, tổ chức sửa chữa khí tài hư hỏng, cấp phát bổ sung trang bị, làm khí tài phòng hóa ứng dụng. Các phân đội phòng hóa chuyên môn sẵn sàng xử trí những tình huống khó khăn, phức tạp.
Trong đợt 2 chiến dịch, địch thường xuyên sử dụng máy bay, cối 106,7mm CS và lựu đạn CS đánh vào đội hình các Trung đoàn 24, Trung đoàn 9, Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn 304, Trung đoàn 27 thuộc Sư đoàn 320, Trung đoàn 270 địa phương; các điểm cao 595, 201; khu vực Bi Hiên, Tà Cơn, Làng Con, Châu Lang Chánh, Quảng Xá, Trúc Sơn, Gia Bình, Đông Ma, Hô Khê, Vinh Quang Thượng, Vinh Quang Hạ, Cẩm Phê; ngoài ra chúng còn sử dụng máy bay ném bom napan xuống các khu vực xung quanh Khe Sanh nhằm tiêu hao lực lượng, làm tê liệt hỏa lực, gây trở ngại đến hành động chiến đấu của ta. Song, dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan hóa học các cấp, bộ đội đã thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng chống: Phát hiện, xử trí tốt các tình huống địch tập kích chất độc hóa học và nhanh chóng khắc phục hậu quả, giữ vững sức chiến đấu. Điển hình như ngày 15 tháng 2 năm 1968, sau nhiều lần tiến công không chiếm được chốt của Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 ở điểm cao 201 (Bắc Đường 9 cách Cà Lu khoảng 2,5km về phía Tây) địch dùng pháo cối 106,7mm tập kích đạn khói CS chi viện trực tiếp cho bộ binh xung phong. Nhưng bộ đội trên chốt phát hiện được ngay từ đầu, kịp thời sử dụng khí tài phòng hóa, ngăn chặn, đầy lùi đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa. Ngày 05 ngày 3 năm 1968 máy bay C130 của địch rải bột CS xuống trận địa của Trung đoàn 270; chỉ huy trung đoàn đã phát hiện từ phút đầu và phát lệnh báo động hóa học cho toàn đơn vị đeo mặt nạ, tổ chức di chuyển ra ngoài khu vực bị nhiễm độc và tiến hành tiêu tẩy cho người, vũ khí trang bị.
Bộ đội Hóa học quan sát, phát hiện, kịp thời thông báo, báo động các tình huống hóa học. Như tổ quan sát hóa học Trung đoàn 2 Sư đoàn 325 phát hiện địch thả bom hóa học và lấy mẫu xác định loại, nồng độ chất độc. Tổ quan sát hóa học Sư đoàn 304 cơ động đến cầu Bi Hiên trinh sát lấy mẫu và hướng dẫn đơn vị cách xử trí kịp thời. Lực lượng hóa học ở các đài quan sát còn chủ động xuống các tiểu đoàn, đại đội tổ chức huấn luyện các biện pháp phòng hóa tại chỗ. Ở hướng Đông, Trung đoàn 270 chốt giữ Lâm Xuân - Bạch Cầu và Hoàng Hà đã đánh bại nhiều đợt hành quân giải tỏa của địch; trong một số trận chiến đấu, máy bay, pháo cối địch tập kích bom đạn hoá học, bộ binh địch sử dụng lựu đạn hoá học, nhưng lực lượng quan sát hoá học của đơn vị đã phát hiện và thông báo, báo động kịp thời cho bộ đội sử dụng khí tài đề phòng tiếp tục chiến đấu giành thắng lợi.
Màn khói ngụy trang, nghi binh được Bộ đội Hóa học thực hiện hiệu quả, đã thu hút được hàng trăm quả bom, hàng chục loạt B-52, bảo đảm an toàn cho hai cụm pháo Chiến dịch; thả khói ngụy trang che khuất 26km, 374 cụm khói, 943 điểm khói, 44 trận địa giả. Phân đội súng phun lửa của Đại đội PH62 tăng cường cho Trung đoàn 270 làm nhiệm vụ chốt ở Lâm Xuân - Bạch Cầu và Hoàng Hà đã tham gia đánh 3 trận, diệt 23 tên địch.
Đợt 3 (01.4 - 07.5.1968) bảo đảm phòng hóa đánh địch ứng cứu, giải tỏa Khe Sanh. Trước thất bại liên tiếp trên Đường 9 - Khe Sanh, cụm cứ điểm Tà Cơn bị áp lực vây lấn của quân ta ngày càng mạnh hơn. Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam phải đưa Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ cùng với Chiến đoàn dù 3 quân đội Việt Nam cộng hòa mở cuộc hành quân “Ngựa bay” nhằm giải tỏa Khe Sanh.
Bộ Tư lệnh Chiến dịch tập trung chỉ huy bộ phận vây lấn cụm cứ điểm Tà Cơn giữ vững trận địa, tích cực đánh địch phản kích và khống chế chúng ở trong căn cứ; lực lượng cơ động tập trung đánh địch đổ bộ đường không tại các khu vực Làng Cát, Sa Mưu, Úc nghị, Bồng Kho, điểm cao 471, Cu Bốc, Pa Ka, Húc Hạ, Làng Vây, Làng Khoai…kết hợp đánh chặn địch trên Đường số 9 đoạn Cà Lu - Rào Quán. Trong quá trình ứng cứu giải tỏa Tà Cơn, địch thường sử dụng chất độc CS tập kích vào trận địa của ta ở xung quanh khu vực Tà Cơn và Đường 9.
Trên cơ sở nhận định, đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn sử dụng chất độc hóa học của địch, Phòng Hóa học Chiến dịch nhanh chóng chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị tiếp tục duy trì hệ thống quan sát hóa học. Chuẩn bị đủ khí tài phòng hóa, nước sinh hoạt và xây dựng công sự, hầm phòng hóa, nhất là các đơn vị làm nhiệm vụ chốt giữ các điểm tựa phía Tây, phía Nam Khe Sanh. Hướng dẫn các đơn vị tiếp tục huấn luyện bổ sung về các dấu hiệu địch chuẩn bị tập kích chất độc hóa học, động tác sử dụng khí tài phòng hóa cá nhân trong chiến đấu. Cùng với đó, cán bộ hóa học đến trận địa từng đại đội để phổ biến, hướng dẫn cho đơn vị tổ chức các biện pháp phòng hóa. Cùng với sự chỉ đạo kịp thời của Phòng Hóa học Chiến dịch, chỉ huy các đơn vị tích cực chuẩn bị đủ khí tài đề phòng và thực hiện các biện pháp phòng chống địch tập kích chất độc hóa học, vũ khí cháy.
Ngày 1 tháng 4 năm 1968, cuộc hành quân “Ngựa bay” của địch nhằm giải tỏa Khe Sanh bắt đầu. Địch tập trung hỏa lực đánh phá các khu vực xung quanh Khe Sanh; đổ bộ đường không xuống Đường 9 đoạn Cà Lu - Rào Quán và Khe Sanh sau đó đánh rộng ra xung quanh. Từ ngày 4 tháng 4 đến ngày 7 tháng 5, địch năm lần tập kích chất độc CS ở dạng khói vào đội hình Sư đoàn 304, Trung đoàn 48 Sư đoàn 320; trong đó tập trung vào các điểm cao 471, 420, 622, 166; khu vực Làng Bon, Làng Vây, Làng Troài, Kim Dâu; đoạn đường cơ động từ Sa Đoan đến Húc Cốc Giang, … Nhưng các đơn vị đều phát hiện sớm nên đã chủ động phòng chống tốt. Trận chốt giữ điểm cao 471, khoảng 9 giờ 45 phút ngày ngày 4 tháng 4, một lực lượng quân Mỹ tiến công lên mỏm 1, mỏm 2 điểm cao 471 do Đại đội 7 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 9 đang chốt giữ nhưng bị đánh bật trở lại. Không chiếm được chốt, chúng lui về phía sau, dùng không quân, pháo binh đánh phá ác liệt vào trận địa của đại đội, trong đó có bom khói CS và đạn khói CS. Do phán đoán đúng thủ đoạn sử dụng chất độc hóa học của địch nên chỉ huy Đại đội 7 đã ra lệnh cho các bộ phận tăng cường quan sát và chuẩn bị khí tài phòng hóa; khi quan sát thấy màn khói bom đạn mù mịt trên trận địa thì bộ đội ta đã ẩn nấp trong hầm phòng hóa và đeo mặt nạ. Kết quả đại đội không bị nhiễm độc và tiếp tục đánh bại hai lần tiến công tiếp theo của địch, giữ vững trận địa.
Mặc dù đã phải sử dụng chất độc hóa học để hỗ trợ nhưng địch vẫn không đạt được mục tiêu giải tỏa Khe Sanh, nên từ ngày 25 tháng 4 đến ngày 7 tháng 5 năm 1968 Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ và Chiến đoàn dù 3 bắt đầu rút quân, kết thúc cuộc hành quân “Ngựa bay”.
Đợt 4 (08.5 - 15.7.1968) bảo đảm phòng hóa trong khôi phục thế vây lấn Tà Cơn, tạo sức ép buộc địch rút bỏ Khe Sanh. Mở đầu đợt 4 chiến dịch, Sư đoàn 304 liên tục tập kích các cứ điểm địch phía Tây, phía Nam Tà Cơn. Sư đoàn 308 tiến công địch ở Làng Cát trên Đường 9. Đến thượng tuần tháng 5, thế trận vây lấn Tà Cơn được khôi phục trở lại. Để hạn chế sự vây hãm của ta, địch tập trung hoả lực đánh phá ác liệt vào trận địa của ta trong đó có chất độc hóa học. Cùng với việc sử dụng chất độc CS, từ ngày 15 đến ngày 27 tháng 5 năm 1968 địch còn dùng máy bay phun rải chất độc diệt cây xuống các khu vực Phú Tho, Kinh Môn, Ninh Xá, Hô Khê, Đá Bạc và dọc sông Bến Hải từ Hiền Lương đến Bến Tắt, gây khó khăn cho hành động tác chiến của ta.
Trước tình hình đó, cơ quan và cán bộ hóa học các cấp thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị tổ chức rút kinh nghiệm trong công tác phòng hóa. Củng cố lại các đài quan sát hóa học, hệ thống thông báo, báo động hóa học. Bộ đội Hóa học đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng hóa học kiêm nhiệm thực hiện tốt vai trò nòng cốt hướng dẫn, giúp đỡ các đơn vị huấn luyện, rèn luyện các kỹ thuật sử dụng khí tài phòng hóa cá nhân trong chiến đấu. Các đơn vị khẩn trương tự làm các loại khí tài phòng hóa ứng dụng để bổ sung cho bộ đội; tích cực làm hầm kín hơi, dự trữ đủ nước sạch; nhất là các đơn vị làm nhiệm vụ chốt giữ xung quanh khu vực Khe Sanh. Do ta chủ động áp sát, vận dụng linh hoạt các thủ đoạn nên đã hạn chế được một phần khả năng sử dụng chất độc hóa học của địch; đồng thời tích cực diệt phá lực lượng, phương tiện, chất độc hóa học của địch. Trong các tình huống địch tập kích chất độc CS, bộ đội đã nhanh chóng phát hiện, kịp thời đeo mặt nạ phòng độc và tiếp tục chiến đấu. Đặc biệt trong đợt 4, địch thường sử dụng chất độc CS thể bột, bộ đội khẩn trương sử dụng khí tài phòng hóa ứng dụng như khăn mặt, khẩu trang…nhúng nước bịt kín mắt, mũi, miệng và nhanh chóng vượt ra ngoài khu độc, cởi bỏ quần áo, tắm rửa; sau đó dùng nước sạch rửa mắt, mũi và súc miệng nhiều lần. Khi đường cơ động bị nhiễm bột CS, tiến hành gạt, xúc, gom bột CS ở trên mặt đường và chôn xuống đất.
Với mục đích giải tỏa Khe Sanh, từ ngày 2 tháng 6, địch sử dụng hai trung đoàn thủy quân lục chiến lần lượt đổ bộ xuống các vị trí xung quanh Khe Sanh nhưng đều bị quân ta đánh thiệt hại nặng, do vậy ngày 18 tháng 6 chúng buộc phải co về giữ Đường 9 và Nam Tà Cơn. Ngày 26 tháng 6 năm 1968, Đại tướng Abram - chỉ huy quân Mỹ ở Việt Nam đã ra lệnh rút bỏ Khe Sanh. Nhưng do những hoạt động tích cực của ta, nên cuộc hành quân rút khỏi Khe Sanh của Mỹ phải kéo dài đến ngày 15 tháng 7 năm 1968. Ta làm chủ Đường 9 đoạn từ Lao Bảo đến sát Cà Lu (trừ cứ điểm Động Tri), kiểm soát toàn bộ khu vực Khe Sanh - một địa bàn chiến lược quan trọng ở phía Tây Đường 9.
Qua hơn 170 ngày đêm chiến đấu trong điều kiện địch thường xuyên sử dụng chất độc hóa học với cường độ ngày càng cao, với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nhưng Bộ đội Hóa học đã tích cực, chủ động, sáng tạo, mưu trí, dũng cảm; xây dựng, phát triển lực lượng phòng hóa quần chúng rộng khắp, kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng phòng hóa chuyên môn với phòng hóa kiêm nhiệm, tạo thế trận phòng hóa vững chắc, linh hoạt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm nòng cốt bảo đảm phòng hóa cho các lực lượng chiến dịch. Bên cạnh đó, cán bộ hóa học các cấp luôn bám sát đơn vị, nắm chắc tình hình, đề xuất kịp thời với người chỉ huy những biện pháp bảo đảm hóa học hợp lý cho các đơn vị chiến đấu. Hệ thống đài quan sát hóa học được duy trì thường xuyên, liên tục, quan sát, thông báo kịp thời, chính xác các tình huống hóa học. Các phân đội làm nhiệm vụ thả khói ngụy trang, nghi binh tích cực, chủ động thực hiện nhiệm vụ theo đúng phương án tác chiến, góp phần thu hút, tiêu hao một khối lượng lớn bom đạn của địch, góp phần bảo đảm an toàn và giữ gìn lực lượng tác chiến chiến dịch. Các phân đội lửa được tăng cường cho các đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ uy hiếp lô cốt đầu cầu, tạo điều kiện và thời cơ cho các lực lượng mở cửa, đột kích thọc sâu tiêu diệt địch. Trong chiến dịch, Bộ đội Hóa học đã cấu trúc được 57 trận địa pháo giả các loại, chín trận địa phục kích bắn máy bay, 13km đường giả, 70 bù nhìn, năm chiếc cầu giả bắc qua sông, 20 km đường dây điện thoại giả, sáu mục tiêu giả vô tuyến điện, 24 kho và lán giả, 26km màn khói che khuất, 374 cụm khói, 943 điểm khói…thu hút được hàng nghìn loạt bom, hàng nghìn quả đạn pháo, hàng trăm lượt máy bay B52, hàng trăm quả bom cháy, tên lửa, cùng hàng trăm giờ đánh bom, bắn pháo của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chiến đấu. Phân đội súng phun lửa tham gia chiến đấu đã tiêu diệt và bắt sống 41 tên, thu nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch; được Bộ Tư lệnh Chiến dịch đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ, hai tập thể, chín cá nhân được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ và Huân chương Chiến công Giải phóng các hạng cùng nhiều bằng khen, giấy khen.
Qua công tác bảo đảm phòng hóa Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, Binh chủng Hóa học đã rút ra nhiều kinh nghiệm về nghệ thuật chỉ đạo xây dựng và tổ chức sử dụng lực lượng hóa học chiến dịch hiệp đồng binh chủng. Đó là bài học về tổ chức xây dựng cơ quan hóa học chiến dịch có trình độ, năng lực chuyên môn làm tham mưu về công tác phòng hóa chiến dịch. Về nghệ thuật xây dựng lực lượng phòng hóa quần chúng rộng rãi trong các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân, du kích, Bộ đội Hóa học làm nòng cốt. Bài học về kết hợp chặt chẽ giữa phòng chống và đánh địch bằng vũ khí đặc chủng, trong đó phòng chống là chủ yếu; kết hợp chặt chẽ giữa khí tài phòng hóa hiện đại, chế sẵn với khí tài phòng hóa thô sơ, ứng dụng. Bài học về chủ động, mưu trí, khôn khéo sử dụng màn khói ngụy trang nghi binh lừa địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chiến đấu. Đó là những bài học kinh nghiệm có giá trị bổ sung và làm phong phú thêm lý luận bảo đảm phòng hóa của Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.
Để lại bình luận
Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *