
Cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 87 và Kho K62 xử lý chất độc CS tồn lưu sau chiến tranh tại Đồng Nai.
Từ nhận thức đến hành động
Nhận thức sâu sắc tác hại của chất độc hóa học, ngay sau khi kết thúc chiến tranh, Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, huy động nhiều nguồn lực xã hội để hàn gắn vết thương chiến tranh, khắc phục hậu quả chất độc hóa học, khôi phục và phát triển sản xuất. Tuy nhiên hiện nay, chất độc hóa học/Dioxin vẫn còn đang còn tồn tại ở một số khu vực với nồng độ rất nguy hiểm, chủ yếu là ở các sân bay Đà Nẵng, Biên Hoà, Phù Cát; trước kia, những nơi này được sử dụng làm kho chứa, nơi nạp chất diệt cỏ vào máy bay trước khi đi phun rải, nơi rửa máy bay sau khi đi phun rải về và là nơi chứa các vỏ thùng đựng chất diệt cỏ sau khi đã nạp vào các phương tiện phun rải. Ngoài ra, vẫn còn lại với số lượng khá lớn chất độc CS và đạn dược chứa CS, một phần nằm ở các kho, căn cứ quân sự cũ, một phần nằm rải rác ở các cánh rừng, nương rẫy thuộc các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và hầu hết các tỉnh miền Nam nước ta.
Binh chủng Hóa học được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ làm nòng cốt trong việc điều tra, thu gom, xử lý chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng thời bình của Binh chủng. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ Bộ giao, lãnh đạo, chỉ huy Binh chủng đặc biệt quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện chặt chẽ. Trên cơ sở phát huy tiềm lực sẵn có của mình, Binh chủng đã chủ động, tích cực triển khai nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo đúng đắn, kịp thời, toàn diện, đồng bộ, có hiệu quả nhiệm vụ này. Trong đó tập trung thực hiện tốt chức năng tham mưu đề xuất với Chính phủ, Bộ Quốc phòng về xử lý chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh; triển khai nghiên cứu nhiều chương trình, đề tài công nghệ xử lý chất độc hoá học chứa dioxin, chất độc CS tồn lưu sau chiến tranh phù hợp với điều kiện Việt Nam; trực tiếp thực hiện các dự án điều tra, thu gom, xử lý chất độc hóa học tồn lưu, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, tạo môi trường ổn định để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Khoanh vùng tẩy độc và phục hồi môi trường cho các khu vực nhiễm độc da cam/dioxin
Từ năm 1995 - 1997, Binh chủng Hoá học được giao chủ trì phối hợp với Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga và Học viện Quân Y thực hiện dự án“Khắc phục hậu quả khu bị nhiễm các chất độc diệt cỏ chứa dioxin tại sân bay Biên Hoà” (khu vực Z1), với các mục tiêu khảo sát đánh giá độ tồn lưu dioxin, nghiên cứu xây dựng công trình chống lan toả chất độc ra các khu vực xung quanh, nghiên cứu ảnh hưởng của dioxin đối với con người và biện pháp khắc phục, nghiên cứu các giải pháp tiêu độc. Kết quả dự án đã xác định được khu vực Z1 có hàm lượng dioxin tồn lưu rất cao hơn mức cho phép và phân bố không theo một qui luật nhất định và phát tán đến độ sâu hơn 1m, nếu lấy ngưỡng nồng độ dioxin cho phép trong đất phi nông nghiệp ở Việt Nam là 1000 ppt thì khối lượng cần phải tiêu độc ở khu vực Z1 là 13.500 m3; đã khoanh vùng, xây tường bảo vệ khu vực tồn lưu chất độc với diện tích 2,3ha, đào mương, nắn dòng chảy kết hợp với cống lọc đã giải quyết một cách tương đối cơ bản việc chống lan toả chất độc từ khu Z1 ra môi trường và bên cạnh đó, đã đề xuất bê tông hoá toàn bộ bề mặt ô nhiễm với độ dày thích hợp và đào rãnh sâu xung quanh khu nhiễm, kết hợp với việc sử dụng vật liệu hấp phụ dioxin để ngăn cản dioxin lan toả theo nguồn nước ra môi trường cho các vùng ô nhiễm có diện tích không lớn, không cần tái tạo đất khu vực đó cho sản xuất nông nghiệp; đã tìm ra phương pháp declohoá kết hợp với oxyhoá để xử lý Dioxin tại các vùng bị ô nhiễm nặng, hiệu quả tiêu độc dioxin đạt hơn 90%; đã xây dựng được mô hình và phương pháp luận khoa học để nghiên cứu các ảnh hưởng của chất độc da cam và Dioxin đến con người và đề xuất biện pháp khắc phục. Dự án có ý nghĩa rất quan trọng cả về khoa học, kỹ thuật và kinh tế, xã hội, góp phần thiết thực vào việc khắc phục hậu quả chất độc hoá học tồn lưu ở Việt Nam và đây là một trong những công trình tiên phong do quân đội thực hiện. Mặc dù trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn về trình độ chuyên môn, trang thiết bị các phòng thí nghiệm …, song được sự quan tâm chỉ đaọ trực tiếp của Thủ trưởng Bộ và các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng và Nhà nước, với tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ dám làm, không quản khó khăn độc hại, đoàn kết hợp đồng chặt chẽ, sự hợp tác có hiệu quả giữa các cơ quan và đội ngũ cán bộ khoa học trong và ngoài quân đội, dự án đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, đội ngũ cán bộ khoa học của các đơn vị tham gia dự án đã có bước trưởng thành đáng kể, trang thiết bị thí nghiệm đã được đầu tư đổi mới một bước quan trọng, tạo cơ sở thuận lợi để Quân đội tham gia trực tiếp vào nhiều nội dung trong chương trình của Nhà nước về khắc phục hậu quả chiến tranh hoá học trong những năm tiếp theo.
Từ năm 1997 - 1999, Binh chủng Hoá học được giao chủ trì phối hợp với Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga và Học viện Quân Y thực hiện dự án “Điều tra, đánh giá và khắc phục hậu quả khu bị nhiễm chất độc hoá học chứa dioxin tại sân bay Đà Nẵng” (khu vực Z2), với các mục tiêu như đánh giá độ tồn lưu chất độc chiến tranh chứa dioxin tại khu vực bị nhiễm độc, đánh giá ảnh hưởng của chất độc chứa dioxin đối với con người trong khu vực và nghiên cứu biện pháp khắc phục, đánh giá ảnh hưởng và nghiên cứu biện pháp hạn chế ảnh hưởng của chất độc chứa dioxin đối với môi trường sinh thái khu vực, nghiên cứu giải pháp xử lý. Kết quả đã đánh giá được độ tổn lưu chất da cam và dioxin ở khu vực Z2, xác định được khối lượng đất cần phải tiêu độc là: 47.400 m3 (nếu lấy nồng độ dioxin cho phép ở khu vực là 1.000 ppt), đặc biệt đã phát hiện độ tồn lưu chất da cam và dioxin vượt quá nồng độ cho phép nhiều lần tại khu đóng quân và giếng nước của Đại đội công binh/ F372 và đề nghị Bộ Quốc phòng cho di dời đơn vị này đến địa điểm an toàn hơn; xác định được những dấu hiệu bệnh lý khác biệt của những người sống gần khu vực nhiễm so với nhóm người đối chứng, từ đó đã đề xuất một số biện pháp khắc phục, giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến những người đã tiếp xúc trực tiếp với chất độc; xác định được những biến đổi bất thường của thảm thực vật, động vật trong khu vực nhiễm độc; đã đào mương, nắn dòng chảy kết hợp xây dựng hệ thống cống lọc chứa than hoạt tính oxy hoá để hạn chế việc cuốn trôi chất độc bởi nước mưa từ khu vực nhiễm ra môi trường; đã áp dụng phương pháp declohoá kết hợp với oxyhoá có nghiên cứu điều chỉnh các yếu tố cho phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của khu vực Z2 để xử lý dioxin và tổ chức thử nghiệm tại hiện trường với qui mô 9 tấn/1 thực nghiêm cho thấy hiệu quả tiêu độc dioxin đạt được 85 - 90%; bên cạnh đó dự án đã tiến hành thử nghiệm cô lập tại chỗ 1.800 m2 đất nhiễm chất độc da cam/dioxin bằng cách đào mương xung quanh khu vực nhiễm có độ sâu 1,50 m, chiều rộng 0,10 m, lòng mương được lấp đầy bằng vật liệu bentonit (BT-1), bề mặt của khu vực cô lập được bê tông hoá dày 10 cm để ngăn chặn nước mưa ngấm xuống đất, kết quả theo dõi qua 3 năm thấy phương pháp cô lập tại chỗ này tỏ ra có hiệu quả, đã hạn chế sự lan toả của dioxin ra môi trường. Qua việc thực hiện dự án, tiềm lực về cơ sở nghiên cứu và đội ngũ cán bộ chuyên môn đã được tiếp tục nâng lên.
Từ năm 1999 - 2002, Binh chủng Hoá học được giao chủ trì phối hợp với Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga và Học viện Quân Y thực hiện dự án “Điều tra, đánh giá và khắc phục hậu quả chất độc hoá học chứa dioxin tại sân bay Phù Cát” (khu vực Z3), với các mục tiêu đánh giá độ tồn lưu chất độc dioxin, nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của dioxin đối với con người và hệ sinh thái khu vực, nghiên cứu ngăn chặn sự lan toả của chất độc ra môi trường xung quanh, nghiên cứu giải pháp công nghệ xử lý chất độc dioxin phù hợp với điều kiện khu vực. Kết quả đã xây dựng được quy trình và lấy mẫu thống kê khu vực nhiễm độc ở các độ sâu khác nhau để phân tích, đánh giá tồn lưu chất độc da cam/dioxin, đưa ra được các kết luận về mức độ ô nhiễm và đánh giá sự lan tỏa, hướng di chuyển chất độc da cam/dioxin ra môi trường xung quanh, định hướng công nghệ và khối lượng khu vực cần xử lý; đã thiết kế, xây dựng hệ thống cống lọc sử dụng than hoạt tính hấp thụ chất độc da cam/dioxin hạn chế sự lan tỏa của chúng theo nguồn nước; tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện công nghệ xử lý dioxin đã qua thử nghiệm ở dự án Z1, Z2 áp dụng vào dự án Z3 cho kết quả đáng tin cậy; đã nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học các bệnh liên quan đến con người trong khu vực nghiên cứu, đưa ra được một số kết luận về dị tật bẩm sinh, chỉ số trí tuệ và một số bệnh liên quan, đề xuất một số giải pháp phục hồi chức năng, tăng cường miễn dịch. Qua thực hiện dự án, tiềm lực về cơ sở nghiên cứu và đội ngũ cán bộ chuyên môn tiếp tục được nâng lên, trong đó có ý nghĩa hơn cả là đã tạo ra được một đội ngũ cán bộ nghiên cứu trong quân đội có đủ năng lực và kinh nghiệm để tham gia và thực hiện tốt các đề tài, dự án trong chương trình của Nhà nước về khắc phục hậu quả chiến tranh hoá học của Mỹ ở Việt Nam trong thời gian tới.
Từ năm 2006 - 2010, Binh chủng Hóa học làm chủ đầu tư dự án “Xử lý khu đất nhiễm chất độc hoá học chứa dioxin tại sân bay Biên Hoà tỉnh Đồng Nai” (XĐ-1), đã hoàn thành xử lý gần 100.000 m3 đất nhiễm dioxin trên diện tích khoảng 4,7 ha bằng công nghệ chôn lấp cô lập từ kết quả nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước của Binh chủng và có một phần kết hợp với công nghệ chôn lấp tích cực (chôn lấp, cô lập có sử dụng chế phẩm sinh học), ngăn cản phát tán dioxin ra môi trường xung quanh, góp phần cải thiện môi trường, bảo vệ sức khoẻ cho bộ đội và nhân dân trong khu vực. Kết quả thực hiện dự án đã khẳng định việc chôn lấp cô lập cách ly hoàn toàn đất nhiễm chất độc hoá học/dioxin bằng vật liệu cách ly HDPE, vải địa kỹ thuật, vật liệu lọc Enviromat và sử dụng Bentonit để hấp phụ là hiệu quả, dễ triển khai thực hiện, giá thành rẻ và phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay; đồng thời đã đào tạo được đội ngũ cán bộ, nhân viên có khả năng thực hiện tốt các nhiệm vụ xử lý chất độc hoá học tồn lưu sau chiến tranh, rút ra được các bài học kinh nghiệm cho việc triển khai thực hiện các dự án xử lý chất độc hoá học da cam chứa dioxin bằng phương pháp chôn lấp, cô lập, cách ly tiếp sau được tốt hơn.
Từ năm 2008 - 2012, Binh chủng làm chủ đầu tư dự án "Điều tra, đánh giá mức độ ô nhiễm chất độc da cam/dioxin do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam tại 7 sân bay quân sự Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát, Nha Trang, Tuy Hòa, Phan Rang và đề xuất các giải pháp xử lý". Kết quả điều tra cho thấy ngoài các khu vực nhiễm nặng đã được phát hiện trước đây còn phát hiện thêm nhiều khu nhiễm mới tại các sân bay như: Phù Cát (2), Đà Nẵng (5), Biên Hòa (4) và Tân Sơn Nhất (1), các khu vực trên đều bị nhiễm chất độc da cam/dioxin rất nặng, cao hơn rất nhiều lần ngưỡng cho phép, đòi hỏi phải tiến hành xử lý triệt để. Các kết quả này đã được Văn phòng Ban chỉ đạo 33/Bộ Tài nguyên và Môi trường cập nhật trong Báo cáo tổng thể về tình hình ô nhiễm dioxin tại 3 điểm nóng: Sân bay Biên Hoà, Đà Nẵng và Phù Cát tháng 11 năm 2013. Trên cơ sở kết quả điều tra khảo sát đó, Binh chủng đã đề xuất các giải pháp trước mắt cũng như lâu dài để xử lý, khắc phục hậu quả ô nhiễm dioxin cho từng sân bay.
Từ năm 2014 đến nay, Binh chủng làm chủ đầu tư dự án “Xử lý khu đất nhiễm chất độc da cam/dioxin tại sân bay Biên Hoà giai đoạn 2” (XĐ-2). Đây là dự án sử dụng công nghệ chôn lấp, cô lập. Kết quả, cơ bản đã hoàn thành chôn lấp cô lập hơn 50.000 m3 đất nhiễm da cam/dioxin, hiện nay đang tiến hành thực hiện các nội dung còn lại để hoàn thành dự án trong năm 2016.
Bên cạnh việc trực tiếp điều tra, thu gom, xử lý chất độc tồn lưu, Binh chủng còn được giao nhiệm vụ giám sát công nghệ dự án Xử lý môi trường ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng, do Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) chủ trì thực hiện và Quân chủng Phòng không - Không quân làm chủ đầu tư. Lực lượng trực tiếp giám sát là Trạm Quan trắc miền Trung/Viện Hóa học-Môi trường Quân sự đã thường xuyên có mặt tại công trường xử lý, tổ chức giám sát theo đúng quy trình và kế hoạch được phê duyệt. Trong quá trình giám sát, đã kịp thời phát hiện sự cố dò, rỉ chất độc ra môi trường xung quanh như: nước thải, khí thải sau xử lý vượt tiêu chuẩn cho phép (tiêu chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT); khi phát hiện thấy sự cố, đã kịp thời báo cáo Chủ đầu tư và yêu cầu nhà thầu thi công nước ngoài dừng gia nhiệt để kiểm tra, tìm nguyên nhân và thực hiện các biện pháp khắc phục.
Ngoài ra, Binh chủng còn thực hiện tư vấn thiết kế kỹ thuật cho công trình xử lý đất nhiễm chất độc dioxin tại sân bay Phù Cát theo phương pháp chôn lấp, cô lập và tư vấn thiết kế xây dựng phương án chống lan tỏa tạm thời ô nhiễm chất độc da cam chứa dioxin khu vực Tây Nam đường băng sân bay Biên Hòa do Văn phòng Ban chỉ đạo 33 là Chủ đầu tư.
Điều tra, thu gom, xử lý chất độc CS tồn lưu sau chiến tranh
Từ năm 1999 đến nay, Binh chủng đã phối hợp với phòng Hóa học, phòng Khoa học quân sự, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh thuộc các Quân khu 4, 5, 7, 9 tiến hành điều tra tại 293 huyện, thị, thành của 34 tỉnh thuộc các Quân khu IV, V, VII, IX đã phát hiện, thu gom và xử lý được hơn 400 tấn chất độc CS và đạn dược chứa chất độc CS. Đặc biệt năm 2005, đã hoàn thành việc khai quật, thu gom, xử lý triệt để 36,1 tấn chất độc CS và đạn dược chứa chất độc CS tại chân đèo Cù Mông (khu vực 8, phường Bùi Thị Xuân, thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định), đây là điểm nóng về ô nhiễm môi trường nêu trong Quyết định 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/1/2003, Quyết định số 67/2004/QĐ-TTg ngày 27/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ. Kết quả trên đã góp phần làm trong sạch môi trường ở một số khu vực, đảm bảo an toàn cho người và môi trường xung quanh, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân có đất canh tác, an tâm tư tưởng trong sản xuất và canh tác, góp phần ổn định tình hình kinh tế - chính trị - xã hội ở các địa phương.
Triển khai các đề tài nghiên cứu KH&CN khắc phục hậu quả chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh
Từ năm 1999 - 2001, Binh chủng đã chủ trì nghiên cứu đề tài cấp Bộ Quốc phòng “Nghiên cứu xây dựng qui trình công nghệ thu gom, xử lý chất độc CS tồn lưu sau chiến tranh”. Kết quả đề tài đã tìm ra được công nghệ xử lý chất độc CS bằng phương pháp thủy phân; công nghệ này đã được Bộ Quốc phòng ban hành tại Quyết định số 255/2003/QĐ-BQP ngày 15/10/2003 và đã được đưa vào áp dụng xử lý gần 300 tấn chất độc CS.
Từ năm 2001-2002, Binh chủng đã chủ trì thực hiện đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu lựa chọn công nghệ khả thi để xử lý đất nhiễm dioxin trong điều kiện Việt Nam”. Kết quả đã tìm được công nghệ chôn lấp cô lập cách ly triệt để đất và trầm tích nhiễm dioxin bằng vật liệu cách ly HDPE, vải địa kỹ thuật, vật liệu lọc Enviromat và sử dụng Bentonit để hấp phụ, công nghệ này đã được áp dụng thực hiện cho các dự án XĐ-1, XĐ-2 tại sân bay Biên Hòa và sân bay Phù Cát.
Từ năm 2012 - 2015, Binh chủng chủ trì thực hiện đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu lựa chọn công nghệ xử lý triệt để dioxin trong đất và trầm tích phù hợp điều kiện Việt Nam” thuộc Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 “Nghiên cứu khắc phục hậu quả lâu dài chất da cam chứa dioxin do Mỹ sử dụng trong chiến tranh đối với môi trường và sức khoẻ con người Việt Nam”. Kết quả đề tài đã nghiên cứu khảo sát, lựa chọn và kết hợp được các công nghệ đã được kiểm nghiệm để xử lý triệt để chất ô nhiễm da cam/dioxin có trong đất, trầm tích tại sân bay Biên Hòa đó là công nghệ tích hợp; thiết kế, chế tạo được mô hình công nghệ tích hợp dạng pilot với công suất xử lý 50kg/h với hiệu suất xử lý dioxin là 99,32%, sau khi xử lý bằng công nghệ này, nồng độ dioxin còn lại thấp, đáp ứng yêu cầu xử lý theo QCVN 45:2012 và được phép thải vào môi trường. Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước họp ngày 15/3/2016 đánh giá cao kết quả của đề tài về tính hiệu quả của công nghệ cũng như khả năng áp dụng để xử lý triệt để đất, trầm tích nhiễm da cam/dioxin ở Việt Nam nếu tiếp tục được hoàn thiện và thử nghiệm ở quy mô lớn hơn.
Ngoài ra, Binh chủng còn phối hợp với nhiều tổ chức khoa học trong và ngoài nước về nghiên cứu công nghệ xử lý chất độc hoá học tồn lưu sau chiến tranh ở Việt Nam, tham gia và có nhiều báo cáo khoa học tại nhiều buổi hội thảo, hội nghị quốc tế và trong nước về xử lý chất độc da cam/dioxin, tham gia thẩm định các công nghệ xử lý do các tổ chức nước ngoài đề xuất. Binh chủng Hoá học cũng có nhiều chuyên gia tham gia vào Hội đồng hỗn hợp tư vấn Việt - Mỹ về chất độc da cam/dioxin (JAC).
Kết quả thực hiện nhiệm vụ khắc phục hậu quả chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam trong những năm qua của Binh chủng Hóa học đã khẳng định sự nỗ lực vượt bậc, tinh thần vượt qua khó khăn, độc hại, nguy hiểm của cán bộ, chiến sỹ trong Binh chủng. Binh chủng thực sự là lực lượng nòng cốt cùng với các cơ quan, ban, ngành, địa phương, các lực lượng trên địa bàn bị ảnh hưởng chất độc hóa học, tạo sức mạnh tổng hợp trong thực hiện nhiệm vụ. Các lực lượng tham gia thực hiện xử lý chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh ngày càng được thử thách, vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học có thêm nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong áp dụng, triển khai công nghệ và tiếp tục nghiên cứu, lựa chọn công nghệ khả thi trong xử lý chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh phù hợp với điều kiện Việt Nam, thực sự là lực lượng đi tiên phong trong thực hiện nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, nguy hiểm, độc hại, góp phần vào việc làm sống lại những “Vùng đất chết”.
Để thực hiện nhiệm vụ xử lý chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh mà BQP giao cho trong “Kế hoạch hành động khắc phục cơ bản hậu quả chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 của Bộ Quốc phòng”, Binh chủng Hóa học cần tiếp tục xác định đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, trên cơ sở kết quả và kinh nghiệm đã đạt được trong những năm qua, huy động mọi nguồn lực để tiếp tục triển khai thực hiện, tham mưu cho Nhà nước và BQP về các nội dung liên quan đến công tác xử lý chất độc hoá học tồn lưu sau chiến tranh.
Đồng thời, chủ trì, phối hợp với Quân chủng Phòng không - Không quân, Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga, Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự và các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai khoanh vùng, cô lập toàn bộ, lựa chọn công nghệ phù hợp để từng bước xử lý triệt để khu vực ô nhiễm chất độc hoá học/dioxin tại sân bay Biên Hoà, Phù Cát và các điểm ô nhiễm vượt ngưỡng cho phép. Tiếp tục điều tra, thu gom và xử lý chất độc CS và đạn dược chứa chất độc CS tồn lưu sau chiến tranh trên địa bàn các tỉnh thuộc quân khu 4, 5, 7, 9.
Trước mắt, cần tập trung hoàn thành đúng nội dung, bảo đảm chất lượng dự án XĐ-2 để kết thúc vào quí năm 2016 và dự án thu gom, xử lý chất độc CS và đạn dược chứa chất độc CS tồn lưu sau chiến tranh trên địa bàn các tỉnh thuộc các quân khu 4, 5, 7, 9 của kế hoạch năm 2016; hoàn thành tốt nhiệm vụ giám sát công nghệ dự án Xử lý môi trường ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng giai đoạn 2; triển khai thực hiện đúng nội dung, tiến độ và có chất lượng dự án “Điều tra, đánh giá mức độ ô nhiễm chất diệt cỏ chứa dioxin và asen trong đất tại một số sân bay dã chiến thuộc các Quân khu 4, 5, 7, 9”; đề nghị cho triển khai thử nghiệm ngoài hiện trường công nghệ xử lý triệt để dioxin từ kết quả nghiên cứu của đề tài Nhà nước “Nghiên cứu lựa chọn công nghệ xử lý triệt để dioxin trong đất và trầm tích phù hợp điều kiện Việt Nam” để khẳng định tính khả thi của công nghệ trước khi cho áp dụng rộng rãi./.
Để lại bình luận
Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *