Trang thông tin điện tử Binh chủng Hóa học

collapse
...
Trang chủ / Tin bài tổng hợp / Bài học kinh nghiệm bảo đảm Hóa học Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh - Xuân hè 1968

Bài học kinh nghiệm bảo đảm Hóa học Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh - Xuân hè 1968

22/07/2018  Công Thưởng 2,360 lượt xem
Chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị (tháng 12 năm 1967), Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chủ trương mở chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng ở mặt trận Đường 9 - Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược của địch (chủ yếu là quân Mỹ), tạo điều kiện thuận lợi cho toàn Miền thực hiện đòn tiến công chiến lược Tết Mậu Thân 1968.

Lực lượng hóa học tham gia chiến dịch được giao nhiệm vụ: Tổ chức bảo đảm phòng hóa cho các lực lượng tham gia chiến dịch bao gồm huấn luyện, cấp phát trang bị, khắc phục hậu quả địch tập kích chất độc hóa học, vũ khí cháy. Tổ chức quan sát, trinh sát, thông báo, báo động kịp thời cho bộ đội phòng chống và khắc phục. Tổ chức nghi binh bảo đảm cho trận địa hỏa lực và các lực lượng tham gia chiến đấu. Sử dụng vũ khí lửa tham gia chiến đấu tiêu diệt địch.

Cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn 901 Cục Hóa học lên đường vào Nâm chiến đấu.

Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh diễn ra từ ngày 20 tháng 01 đến ngày 15 tháng 7 năm 1968, quan 177 ngày đếm chiến đấu, Bộ đội Hóa học đã quán triệt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm nòng cốt, xây dựng hệ thống phòng hóa từ cơ quan chỉ đạo (Phòng Hóa học chiến dịch; Ban Hóa học sư đoàn, trợ lý hóa học trung đoàn) đến các phân đội phòng hóa chuyên môn, kiêm nhiệm (quan sát, trinh sát, phân đội lửa, màn khói ngụy trang, nghi binh); tổ chức huấn luyện phòng hóa và cấp phát, hướng dẫn sử dụng trang bị, khí tài hóa học chế sẵn và ứng dụng… tạo thành phong trào phòng hóa quần chúng rộng rãi trong tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch đủ sức phòng chống, khắc phục hậu quả, bảo toàn lực lượng. Các đài quan sát phát hiện kịp thời nhiều vụ tập kích hóa học, thông báo cho chỉ huy để có biện pháp xử lý tốt, không để ảnh hưởng đến sức chiến đấu của bộ đội. Sử dụng màn khói ngụy trang, nghi binh đạt hiệu suất cao, thu hút hàng ngàn tấn bom đạn của địch. Phân đội phun lửa phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, mưu trí, dũng cảm, phát huy tốt uy lực của vũ khí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Các hoạt động của Bộ đội Hóa học đã thực sự góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến dịch và rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm.

1. Tổ chức xây dựng cơ quan, phân đội hóa học chiến dịch đủ trình độ, năng lực chỉ đạo công tác phòng hóa cho các lực lượng tham gia chiến dịch:

Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh là chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, nhiều lực lượng tham gia (gồm các fBB 304, 320, 324, 325, 02eBB địa phương, 05ePB, 03eCX, 02dT-TG, 01e và 01cCB, 06dVT, 01dTS, 01dTT và 01cHH; trong quá trình chiến dịch, Bộ điều fBB325 và phần lớn fBB324 đi chiến trường khác, đồng thời điều fBB308 và eBB246 tham gia chiến dịch); địch sử dụng rộng rãi chất độc hóa học, chất cháy với âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Vì vậy, việc tổ chức xây dựng cơ quan hóa học chiến dịch được Cục Hóa học và Bộ Tư lệnh chiến dịch đặc biệt quan tâm. Ngay từ tháng 10 năm 1967, Cục Hóa học tăng cường 9 cán bộ, cùng với 3 cán bộ của Mặt trận B5 hình thành Phòng Hóa học chiến dịch do đồng chí Đào Xuân Hoàng - Trưởng phòng Tham mưu Cục Hóa học làm Trưởng phòng. Đây là những cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn tốt do Cục Hóa học lựa chọn và số cán bộ hóa học của B5. Trong thành phần Phòng Hóa học chiến dịch có sự hỗ trợ, bổ sung cho nhau giữa thực tiễn chiến trường và lý luận được nghiên cứu ở hậu phương, tạo nên sức mạnh tập thể, có khả năng làm tham mưu cho Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ đạo công tác phòng hóa. Để chỉ đạo công tác phòng hóa kịp thời, hiệu quả, Phòng Hóa học chiến dịch thường xuyên cử cán bộ trực tiếp xuống các đơn vị nắm tình hình, giúp đỡ chỉ huy đơn vị thực hiện các biện pháp bảo đảm phòng hóa phù hợp cho đơn vị mình, như các Sư đoàn BB320, 304 mỗi sư đoàn được được tăng cường một cán bộ hóa học; lực lượng nghi binh chiến dịch do hai cán bộ hóa học trực tiếp chỉ đạo, một cán bộ trực tiếp tổ chức phòng hóa cho căn cứ hậu cần - kỹ thuật chiến dịch.

Về xây dựng phân đội hóa học chuyên môn. Đại đội PH91 Tiểu đoàn 902 - Cục Hóa học (gồm 2 trung đội phòng hóa, 01 trung đội lửa) kết hợp với Đại đội PH62 Mặt trận B5 hình thành lực lượng hóa học cơ động chiến dịch. Đây là những phân đội được huấn luyện, trang bị tương đối đầy đủ, có nhiều kinh nghiệm trong công tác chuyên môn, được thử thách qua chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên chiến trường. Đại đội PH62 hoạt động quen thuộc trên địa bàn được tổ chức sử dụng một trung đội (gồm 02 tiểu đội trinh sát, 01 tiểu đội tiêu độc quân số 19 đồng chí) bảo đảm cho Sở chỉ huy chiến dịch; lực lượng còn lại (1c-) được tăng cường cho cho Sư đoàn BB320, Trung đoàn BB270 mỗi đơn vị 01 tiểu đội súng phun lửa; Trung đoàn PB204, Trung đoàn CX128 mỗi đơn vị 01 tiểu đội trinh sát hóa học; một bộ phận làm nhiệm vụ nghi binh chiến dịch. Đại đội PH91 tăng cường cho Sư đoàn BB304 một trung đội Phun lửa (12 đồng chí); 01 tiểu đội trinh sát, 01 tiểu đội súng phun lửa và 01 tổ hóa nghiệm tăng cường cho Sư đoàn BB325; tăng cường cho 2 trung đoàn pháo binh (45, 675) mỗi trung đoàn 01 tiểu đội trinh sát; lực lượng còn lại do Phòng Hóa học chiến dịch nắm để làm nhiệm vụ nghi binh chiến dịch ở phía bắc và nam Đường 9.

Như vậy, việc tổ chức xây dựng cơ quan, phân đội hóa học chiến dịch đủ trình độ, năng lực để chỉ đạo công tác phòng hóa là một bước phát triển mới về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng hóa học, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của chiến dịch hiệp đồng binh chủng. Cơ quan Hóa học chiến dịch đã hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ làm tham mưu giúp Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ đạo toàn diện các nội dung, biện pháp bảo đảm phòng hóa cho bộ đội; phân đội hóa học cơ động trực tiếp giải quyết các tình huống khó khăn, phức tạp, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao.

2. Quán triệt và vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, xây dựng, phát triển phong trào phòng hóa quần chúng rộng khắp với nòng cốt là Bộ đội Hóa học.

Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh diễn ra trong một không gian rộng lớn, thời gian dài, địch tăng cường sử dụng chất độc hóa học, chất cháy; trong khi đó lực lượng hóa học mỏng. Để giảm thiểu tác hại của chất độc hóa học do địch gây ra, thì việc xác định tư tưởng chỉ đạo, phương châm phòng hóa là một nội dung hết sức quan trọng nhằm bảo đảm cho lực lượng tham gia chiến dịch có đủ những điều kiện cần thiết để tự phòng chống, khắc phục hậu quả. Quán triệt sâu sắc phương châm chỉ đạo: Tổ chức xây dựng lực lượng phòng hóa quần chúng rộng rãi trong tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch, Bộ đội Hoá học làm nòng cốt; Phòng Hóa học đã từng bước xây dựng lực lượng phòng hóa quần chúng trong tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch. Trước hết, cán bộ, chiến sỹ hóa học trực tiếp xuống các đơn vị tổ chức huấn luyện bổ sung. Tổ chức cấp phát, hướng dẫn sử dụng trang bị phòng hóa chế sẵn cho các lực lượng làm nhiệm vụ trên hướng chủ yếu; hướng dẫn cách làm khí tài phòng hóa ứng dụng; cách che phòng cho công sự, nguồn nước, lương thực thực phẩm…. Do vậy, các đơn vị tham gia chiến dịch đã nâng cao khả năng phòng hóa; trong các tình huống địch tập kích chất độc hóa học, bộ đội đã bình tĩnh xử trí, bảo toàn lực lượng để phát triển chiến đấu. Mặt khác, trong chiến đấu, bộ đội luôn bám sát địch, vận dụng linh hoạt các thủ đoạn chiến đấu không cho chúng có thời cơ sử dụng chất độc hóa học, chất cháy. Điều đó được thể hiện khi bộ đội ta đánh mạnh vào cứ điểm Tà Cơn, địch đã sử dụng chất độc CS tới 25 lần, tập trung vào các ngày 26, 27, 28 tháng 01 và các ngày 4, 6, 7 tháng 02, các điểm cao 751, 622 có ngày địch tập kích chất độc CS từ 2 đến 4 lần, nhưng bộ đội đã khắc phục kịp thời, giữ vững sức chiến đấu.

Trong thực hiện nhiệm vụ quan sát, trinh sát hóa học, các phân đội phòng hóa chuyên môn một mặt tổ chức nhiều đài quan sát bảo đảm cho Sở chỉ huy chiến dịch, trận địa hỏa lực, căn cứ hậu cần-kỹ thuật; mặt khác tiến hành huấn luyện cho nhiều tổ quan sát kiêm nhiệm (quan sát pháo binh, bộ binh…) để tự bảo đảm cho đơn vị mình, hiệp đồng thông báo, báo động kịp thời cho nhau trên các hướng, các mũi. Đợt 1 chiến dịch, 25 lần địch tập kích chất độc hóa học vào trận địa, đều phát hiện và kịp thời thông báo, báo động. Điển hình tổ quan sát hóa học Trung đoàn 2 Sư đoàn BB325 phát hiện địch thả bom hóa học và lấy mẫu xác định loại, nồng độ chất độc; tổ quan sát hóa học Sư đoàn BB304 cơ động đến cầu Bi Hiên trinh sát lấy mẫu và hướng dẫn đơn vị cách xử trí kịp thời.

Như vậy, với vai trò nòng cốt, Bộ đội Hóa học đã tổ chức, xây dựng lực lượng phòng hóa thành hệ thống hoàn chỉnh, có lực lượng hóa học chuyên môn, kiêm nhiệm và phòng hóa quần chúng rộng rãi, đủ khả năng đề phòng, khắc phục hậu quả khi địch tập kích chất độc hóa học trong chiến đấu.

3. Kết hợp chặt chẽ giữa phòng chống hóa học với đánh địch bằng vũ khí đặc chủng, trong đó lấy phòng chống là chủ yếu.

Kết hợp chặt chẽ giữa phòng chống với đánh địch có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết. Việc kết hợp chặt chẽ giữa phòng chống và đánh địch đã giúp cho Bộ đội Hóa học tích cực, chủ động, linh hoạt hơn trong chiến đấu. Mặt khác, xuất phát từ thực tiễn chiến trường, khi địch sử dụng vũ khí hóa học, bên cạnh việc làm tốt công tác phòng hóa, bảo toàn lực lượng, việc sử dụng vũ khí đặc chủng tham gia chiến đấu sẽ tạo thời cơ lớn cho lực lượng binh chủng hợp thành tiến công tiêu diệt địch trong từng trận đánh, nhất là các trận then chốt, then chốt quyết định. Trong chiến dịch này, Phòng Hóa học chiến dịch đã nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng chống vũ khí hóa học phải kết hợp với đánh địch ngay từ đầu chiến dịch.

Về phòng hóa, đã tích cực, chủ động huấn luyện bổ sung, cấp phát trang bị khí tài, đặt các đài quan sát, nguỵ trang, nghi binh, che phòng cho các đối tượng, làm các công trình phòng hóa... Đặc biệt đã xây dựng được các tổ, đội hóa học kiêm nhiệm làm nòng cốt và tất cả các lực lượng biết tự phòng chống hóa học cho bản thân và đơn vị. Trong chiến đấu, khi bị địch tập kích chất độc hóa học các lực lượng này tự khắc phục là chính; còn lực lượng hóa học chuyên môn giữ vai trò hướng dẫn, bảo đảm vật chất…Chính vì vậy, trong suốt chiến dịch các tình huống hóa học cơ bản được phát hiện và xử lý kịp thời không làm ảnh hưởng lớn đến nhiệm vụ chiến đấu.

Về hoạt động đánh địch, đã đưa các phân đội súng phun lửa vào chiến đấu ngay từ đầu chiến dịch, các phân đội súng phun lửa đã phát huy được uy lực của vũ khí tiêu diệt những hỏa điểm, lô cốt, hầm ngầm, giải quyết những tình huống khó khăn phức tạp, tạo điều kiện và thời cơ để các lực lượng đột kích thọc sâu, phát triển chiến đấu. Điển hình là trận tiến công Làng Vây, phân đội súng phun lửa phối thuộc cho Tiểu đoàn 3 Sư đoàn 325 tiêu diệt và bắt sống 46 tên địch, góp phần cùng các lực lượng diệt gọn một cứ điểm quan trọng án ngữ trên Đường 9, đẩy cụm cứ điểm Tà Cơn vào thế bị cô lập hoàn toàn.

Như vậy, kết hợp chặt chẽ giữa phòng chống với chủ động đánh lại địch đã tạo ra sức mạnh tổng hợp, cơ sở để tiếp tục khẳng định phòng chống và đánh địch là hai nhiệm vụ cơ bản của Bộ đội Hóa học, nhưng được vận dụng một cách chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả trong từng chiến dịch, từng trận đánh cụ thể; đó cũng chính là nghệ thuật sử dụng Bộ đội Hóa học trong chiến đấu cần tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện.

4. Chủ động sử dụng màn khói nguỵ trang, nghi binh lừa địch tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chiến đấu giành thắng lợi.

Trong chiến dịch Đường 9- Khe Sanh, sử dụng màn khói ngụy trang, nghi binh được tiến hành ngay từ đầu theo đúng ý định tác chiến chiến dịch. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng Hóa học chiến dịch, các phân đội màn khói tổ chức nghiên cứu kỹ địa hình, thời tiết, tình hình địch, ta để tạo nên những khu vực nghị binh giống hệt các hoạt động tác chiến của ta, đan xen giữa mục tiêu thật và mục tiêu giả để lừa địch. Chẳng hạn, để làm được một khu trú quân giả, phải nghiên cứu nắm chắc một số tính chất, quy luật hoạt động của khu trú quân như thời gian nấu cơm tương đối cố định, đun bếp ánh lửa bập bùng le lói, quần áo phơi nửa kín nửa hở, vị trí gần nguồn nước sông, suối… Bên cạnh đó, các tổ, đội màn khói chuyên môn phối hợp với công binh làm các cầu, phà, bến vượt, kho tàng, trận địa giả…

Màn khói được sử dụng rộng rãi trong tất cả các hoạt động tác chiến chiến dịch, với nhiều lực lượng tham gia, nhiều đối tượng được màn khói bảo đảm trong suốt quá trình chiến đấu, phát huy được ưu thế lớn, như một thứ “vũ khí” tiến công địch mang lại hiệu quả cao, làm cho địch tập trung bom, đạn pháo vào các trận địa giả, góp phần giảm thiểu thương vong cho lực lượng ta. Trong chiến dịch, Bộ đội Hóa học đã cấu trúc được 57 trận địa pháo giả, 9 trận địa phục kích bắn máy bay, 13km đường giả, 70 bù nhìn, 5 chiếc cầu giả bắc qua sông, 20 km đường dây điện thoại giả, 6 mục tiêu giả vô tuyến điện, 24 kho và lán giả, 26km màn khói che khuất, 374 cụm khói, 943 điểm khói…thu hút được hàng nghìn loạt bom, hàng nghìn quả đạn pháo, hàng trăm lượt máy bay B52, hàng trăm quả bom cháy, tên lửa, cùng hàng trăm giờ đánh bom, bắn pháo của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chiến đấu. Với những thành công trên, nhiệm vụ thả khói nguỵ trang, nghi binh chiến dịch đã làm rõ một số nội dung về nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng hóa học làm nhiệm vụ nghi binh, kỹ, chiến thuật thả khói nguỵ trang nghi binh, cách sử dụng khí tài phát khói hiện đại và khí tài phát khói thô sơ ứng dụng bằng vật liệu tại chỗ…

5. Kết hợp chặt chẽ giữa khí tài phòng hóa hiện đại, chế sẵn với khí tài phòng hóa thô sơ, ứng dụng, bảo đảm sức chiến đấu cho bộ đội.

Công tác bảo đảm khí tài phòng hóa là một nhiệm vụ trọng yếu, một biện pháp cơ bản của công tác bảo đảm phòng hóa. Đối với chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, nhu cầu trang bị, khí tài lớn, phải tổ chức bảo đảm cho nhiều đối tượng, nên gặp không ít khó khăn. Do vậy, kết hợp chặt chẽ việc sử dụng khí tài hóa học hiện đại, chế sẵn với khí tài hóa học ứng dụng được quán triệt đến tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch. Phòng Hóa học chiến dịch đã đánh giá đúng tình hình, xác định đúng đối tượng, khu vực, mục tiêu, hướng chủ yếu để tập trung ưu tiên trang bị khí tài hóa học cho những đơn vị làm nhiệm vụ chủ yếu, những bộ phận quan trọng; như Sư đoàn BB304, 320, các trung đoàn pháo binh, Sở chỉ huy, lực lượng hóa học chuyên môn được bảo đảm 100% khí tài chế sẵn. Các đơn vị ở phía sau, các bộ phận phục vụ chiến đấu chủ yếu sử dụng trang bị phòng hóa thô sơ, ứng dụng. Phòng Hóa học chiến dịch cử cán bộ xuống đơn vị, trực tiếp hướng dẫn sử dụng vật liệu tại chỗ để tự làm mặt trùm, khẩu trang, khăn bịt mặt... Kết quả, số khí tài phòng hóa ứng dụng làm được trong chiến dịch đủ bù đắp số khí tài phòng hóa thiếu và tiêu hao trong chiến đấu. Bộ đội thường xuyên có khí tài phòng hóa và đã sử dụng để phòng chống hiệu quả khi bị địch tập kích chất độc hóa học. Đây chính là bài học về quán triệt và vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng vào thực tiễn công tác bảo đảm phòng hóa cho một chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn.

Trong tương lai, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra), những bài học được rút ra trong công tác bảo đảm phòng hóa Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh - Xuân Hè 1968 đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện mới. Cần tích cực, chủ động nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình, nhất là tình hình về phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trong xây dựng, phát triển lực lượng hóa học trong 3 thứ quân, bảo đảm sự cân đối, vững chắc theo hướng tinh, gọn, mạnh, tạo thế trận phòng hóa vững chắc, cơ động, linh hoạt, phù hợp với thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục nghiên cứu, phát triển nghệ thuật sử dụng bộ đội hóa học trong các loại hình tác chiến, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang và nhân dân sẵn sàng đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí huỷ diệt lớn. Tập trung xây dựng lực lượng phòng hóa nòng cốt (cả chuyên trách và kiêm nhiệm), được huấn luyện chu đáo, sử dụng thành thạo các trang bị khí tài hiện có, làm chủ vũ khí trang bị mới, hiện đại, có sức khoẻ dẻo dai, đủ khả năng làm nòng cốt về phòng hóa khi có tình huống xảy ra. Làm chủ các công nghệ, phát huy có hiệu quả dây chuyền sản xuất trang bị hiện có và tiếp nhận, khai thác có hiệu quả công nghệ sản xuất một số trang bị hóa học mới; nghiên cứu, sản xuất, cải tiến, hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật. bảo đảm sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống./.


Chia sẻ:

Để lại bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *